Hốt Tất Liệt và sự kết nối giao thương
Sau khi chiếm được Hoa Nam, Hốt Tất Liệt đã thống nhất phần lớn Trung Hoa, từ đó xây dựng các mạng lưới giao thương trong cả đất liền cũng như đại dương. Đây có thể nói là đóng góp lớn nhất của ông trong quá trình tại vị.
Cụ thể, trong “Hoàng đế của biển cả”, Jack Weatherford đã cho ta thấy với việc chinh phục thành công Hoa Nam, Hốt Tất Liệt đã mở mang cương thổ gấp đôi và nhanh chóng bắt tay khai thác những nguồn tài nguyên dồi dào để có thể nuôi sống miền bắc và duy trì lực lượng quân đội hùng hậu. Để làm được vậy, ông đã vạch ra một kế hoạch nhằm phối hợp kinh tế giữa miền bắc và miền nam, từ đó đã dẫn đến quá trình trao đổi kỹ thuật, văn hóa, giao thương và dân cư chưa có tiền lệ trong thời cai trị của mình. Chi tiết hơn, họ sẽ không cướp bóc miền nam mà sẽ biến nó thành một vựa sản xuất lương thực thường xuyên cho miền bắc và xuất khẩu ra nước ngoài.

Có thể nói đây là sự phồn thịnh mới của nhà Nguyên và Bá Nhan – cánh tay phải đắc lực của ông - đã đưa ra một phương cách để đạt được điều đó. Cụ thể, ông nhận thấy rằng Trung Hoa cần một hệ thống vận tải hoàn toàn khác, khi mà thói quen truyền thống dựa vào những hệ thống kênh đào nội địa không còn đủ khả năng duy trì dòng vận chuyển liên tục của ngũ cốc và các loại lương thực khác. Từ đây, Bá Nhan đã tìm ra giải pháp trong chính hệ thống mà ông phát triển để di chuyển văn thư lưu trữ và hàng hóa chiếm được từ các cung điện nhà Tống sau khi Hàng Châu thất thủ.
Chi tiết hơn, trước đây, người Mông Cổ đã áp dụng kỹ thuật của nhà Tống cho lực lượng thủy quân, nhưng với các tàu chở lương thực, họ cần vượt qua những giới hạn đặc trưng về kích thước, chiều cao và khả năng vận chuyển. Những năm đầu tiên đã xảy ra không ít tai nạn, tàu bị lạc trên biển, hàng hóa bị hư hỏng và bị mất cắp, nhưng dần dần, dưới sự lãnh đạo của Bá Nhan, những con tàu có kích thước ngày càng lớn hơn, hiệu suất của đội tàu cải thiện và lương thực đã bắt đầu chảy về miền bắc. Cuối cùng, những con tàu của nhà Nguyên đã vận chuyển lượng hàng hóa nhiều gấp tám lần so với những con tàu trước.
Với việc cải cách tiền tệ và vận tải đường biển, giao thương đã phát triển nở rộ. Hàng hóa giờ đây được chuyển qua đường sông và những tuyến đường bộ đến vài thương cảng đã được chỉ định ở miền nam để bán cho những thương nhân ngoại quốc nhằm xuất khẩu đến các thành phố nước ngoài. Điều này đã biến các hải cảng của Trung Hoa thành những đầu mối giao thương toàn cầu, dẫn đến sự lan rộng của văn hóa cũng như của cải đến những vùng ven biển. Sự mở rộng nhanh chóng về địa lý của mạng lưới giao thương cùng với sự gia tăng của tải trọng tàu thuyền và đầu tư đã dẫn đến sự đa dạng hóa mạnh mẽ các mặt hàng buôn bán. Chúng gồm thủy tinh và hạt đá san hô; đủ loại vải vóc đa dạng, gia vị, đá quý và những nguyên vật liệu cho thủ công nghiệp, từ mai rùa cho đến sáp ong. Trung Hoa dưới thời nhà Nguyên đã trở thành thị trường tiêu thụ lớn nhất trên thế giới cho hồ tiêu từ bờ biển Malabar của Ấn Độ. Theo ghi chép của Marco Polo, cứ mỗi tàu chất đầy hồ tiêu đi đến phương Tây Kitô giáo, thì có hơn một trăm tàu đến Tuyền Châu, nơi được coi là một trong "những thương cảng vĩ đại nhất thế giới."
Không ngoa khi nói người Mông Cổ đã biến những sản phẩm tinh xảo của Trung Hoa thành hàng hóa tiêu dùng đại trà. Dù là sách vở, tác phẩm nghệ thuật, tơ lụa, trà hay gốm sứ, họ đã tổ chức những phương pháp sản xuất dây chuyền và khuyến khích chuyên môn hóa. Thay vì mỗi cộng đồng sản xuất rất nhiều những mặt hàng khác nhau, chồng chéo với những cộng đồng lân cận, các thôn làng bắt đầu thu hẹp vào một mặt hàng chuyên biệt duy nhất. Hàng hóa được sản xuất tại các cộng đồng ở Trung Hoa đã trải qua hàng nghìn dặm qua biển đến các cảng ở khắp vùng Nam Á và tiếp tục đến Ba Tư, Ả Rập, Bắc Phi và Đông Phi. Từ những cảng này, chúng tiếp tục đi xa hơn trên đất liền đến những khu vực xa tít mù như Tây Phi và Tây Âu, lúc đó được coi là ở bên rìa xa của thế giới.
Để đáp ứng thị hiếu của thị trường quốc tế, người Mông Cổ, vốn ít đánh giá cao những họa tiết cổ điển của Trung Hoa, đã thúc giục các nghệ nhân chấp nhận nhiều phong cách đổi mới. Tầm vươn xa toàn cầu của Đế quốc Mông Cổ đã đưa đến cho Trung Hoa một loạt những nguyên vật liệu và nhân công mới. Vào những năm 1240, quân Mông Cổ đã du nhập hàng nghìn thợ mỏ người German bị bắt từ Saxony (Sachsen), mà vùng núi ở đó có các mỏ chứa coban. Dù chóng vánh mất hút vào trong nội địa, dường như họ đã có những ảnh hưởng đến việc khai thác những nguyên vật liệu mới để tạo nên màu sắc cho gốm sứ, vì coban được sử dụng ở Giang Tây có thành phần rất tương đồng với quặng coban từ Saxony và Iran. Sự kết hợp của những màu sắc và nguyên vật liệu mới, cùng với khả năng tỉa tót những đường nét vẽ và họa tiết vẽ bằng cọ trước khi nung, đã cho phép sản xuất hàng loạt gốm sứ với hai loại riêng biệt. Những họa tiết màu đỏ sử dụng màu nhuộm oxit đồng, còn coban cho phép tạo ra những họa tiết màu xanh dương sống động.
Ở Trung Đông, các thợ làm gốm đã sử dụng coban để tạo ra những họa tiết màu xanh trong nhiều thế ký, nhưng gồm của họ có chất lượng thấp hơn. Sự xuất hiện đột ngột của màu thiên thanh bổ sung cho màu sứ trắng tinh khiết của Trung Hoa đã tạo ra một sản phẩm mới độc nhất vô nhị. Chỉ ít lâu sau đó, các nghệ nhân ở miền Nam Trung Hoa đã liên tục cho ra thị trường dòng gốm màu xanh dương đi với màu trắng. Khi gốm sứ thời kỳ đầu của nhà Nguyên được khai quật ở Giang Tây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra chữ viết Ba Tư được khắc xung quanh viên của những chiếc bát có chân đế nhỏ - minh chứng không thể chối cãi cho tính chất toàn cầu của ngành sản xuất gốm sứ dưới thời Nguyên. Những khách hàng Hồi giáo ở Trung Đông đã tích cực đón nhận những họa tiết xanh trên nền trắng nổi bật, nhưng tôn giáo của họ cấm họ sở hữu hình ảnh của con người hoặc động vật, vì vậy đã khuyến khích sự chuyên môn hóa cao hơn và không lâu sau đó, các vùng khác của Trung Hoa cũng sản xuất những sản phẩm cho những thị trường khác nhau về mặt địa lý.
Ngoài việc xuất khẩu các sản phẩm thủ công, Trung Hoa còn là nơi xuất khẩu tri thức. Nó trở thành một khung cửa sổ mới cho người châu Âu nhìn ra thế giới, nơi họ không chỉ học hỏi về châu Á mà còn về những miền đất xa xôi nhất của Trái đất. Từ những cơ sở của họ tại các hải cảng Trung Hoa và kinh đô, các nhà truyền giáo Kitô đã soạn những báo cáo định kỳ gửi về Rome với những thông tin về sự đa dạng dân cư của Trung Hoa, quốc gia mang tính toàn cầu nhất thời bấy giờ. Vào đầu triều đại của người kế vị Hốt Tất Liệt là Hoàng đế Thiết Mộc Nhĩ, đã có John xứ Montecorvino, một người ltaly là môn đồ của dòng Thánh Phanxicô, đến truyền giáo ở Hãn quốc Y Nhi trước khi tiếp tục sang Trung Hoa. Trong một bức thư gửi tới những bề trên ở Vatican từ Khanbalik (Bắc Kinh) vào năm 1306, ông đã mô tả một cuộc gặp gỡ với những thảo luận sâu sắc với một phái đoàn Kitô giáo từ Ethiopia đến Trung Hoa. Có thể thấy Trung Hoa đã "giao thương" tri thức với cả thế giới.