Khi cái chết hóa thành sự sống - Ghi chép của một bác sĩ ghép tạng

Thương hiệu: Omega Plus Books
220.500₫ 245.000₫
-10%
(Tiết kiệm: 24.500₫)

Gọi đặt mua 0941212491 (8:00 - 17:00 T2 - T6)

  • Giao hàng toàn quốc
    Giao hàng toàn quốc
  • Đổi trả miễn phí trong vòng 7 ngày
    Đổi trả miễn phí trong vòng 7 ngày
Mô tả sản phẩm

THÔNG TIN XUẤT BẢN

ISBN: 9786320060146 Giá bìa: 245.000 VNĐ
Barcode: 8935270702755 Trọng lượng: 
Số trang: 380 NXB: Hà Nội
Khổ: 16x24 cm Năm XB: 2026
Loại bìa: Bìa mềm tay gấp


NỘI DUNG CHÍNH

“Khi cái chết hóa thành sự sống” - bức tranh toàn cảnh, chân thực và đầy xúc động về thế giới của phẫu thuật ghép tạng.

Điều gì diễn ra sau cánh cửa phòng mổ, nơi một sự mất mát có thể trở thành hy vọng sống của một con người khác? Làm thế nào một quyết định hiến tạng trong khoảnh khắc đau thương nhất lại có thể mở ra tương lai cho nhiều bệnh nhân đang cận kề cái chết?

“Khi cái chết hóa thành sự sống - Ghi chép của một bác sĩ ghép tạng” của Joshua D. Mezrich đưa người đọc bước vào thế giới đặc biệt ấy - thế giới của phẫu thuật ghép tạng, nơi khoa học hiện đại, lòng nhân ái và những lựa chọn đầy xúc động cùng nhau viết nên những câu chuyện về sự sống.

Là một bác sĩ phẫu thuật ghép tạng với nhiều năm kinh nghiệm, Joshua D. Mezrich không chỉ kể lại lịch sử phát triển của một trong những thành tựu y học quan trọng nhất thế kỷ XX, mà còn chia sẻ những trải nghiệm chân thực từ "tuyến đầu": những ca trực kéo dài suốt đêm, những chuyến bay bão dông đi thu nhận tạng, áp lực của từng phút giây trong phòng mổ và những quyết định có thể thay đổi số phận của nhiều con người.

Cuốn sách được chia thành sáu phần với mười tám chương, dẫn dắt người đọc qua toàn bộ hành trình của một ca ghép tạng.

Từ những chương đầu, tác giả mở ra câu chuyện về lịch sử ngành ghép tạng và những bước đi tiên phong của các bác sĩ, nhà khoa học trong hành trình biến điều từng được xem là bất khả thi thành hiện thực. Người đọc sẽ hiểu vì sao việc ghép một quả thận, một lá gan hay một trái tim không chỉ là thành tựu của kỹ thuật phẫu thuật, mà còn là kết quả của hàng chục năm nghiên cứu, thử nghiệm và không ít thất bại.

Tiếp đó, Joshua D. Mezrich kể về hành trình trở thành một bác sĩ ghép tạng – một công việc đòi hỏi kiến thức chuyên môn, sự chính xác tuyệt đối và khả năng đưa ra quyết định trong những tình huống mà ranh giới giữa thành công và thất bại chỉ được tính bằng từng phút.

Điểm đặc biệt của cuốn sách không nằm ở những chia sẻ về kỹ thuật y khoa, mà nằm ở câu chuyện của bệnh nhân và những con người đứng phía sau mỗi ca ghép tạng thành công. Mỗi ca phẫu thuật là sự gặp gỡ giữa một cuộc đời đang dần khép lại và một cuộc đời được trao thêm cơ hội để tiếp tục. Qua đó, tác giả khắc họa ý nghĩa sâu sắc của việc hiến tạng - một nghĩa cử có thể mang lại sự sống cho nhiều người ngay cả khi một cuộc đời đã kết thúc.

Không dừng lại ở hiện tại, Joshua D. Mezrich còn mở ra những triển vọng của y học tương lai, từ điều trị biến chứng đến nghiên cứu cấy ghép dị loài, cho thấy hành trình chinh phục những giới hạn của sự sống vẫn đang tiếp tục.

Với lối viết gần gũi, giàu cảm xúc nhưng vẫn chính xác về mặt khoa học, “Khi cái chết hóa thành sự sống” không chỉ giúp người đọc hiểu hơn về một lĩnh vực y học đặc biệt, mà còn gợi mở những suy ngẫm về giá trị của sự sống, lòng nhân ái và sức mạnh của hy vọng. Bởi đôi khi, một sự kết thúc lại có thể trở thành khởi đầu của nhiều cuộc đời khác.

Cuốn sách dành cho những người làm trong lĩnh vực y khoa, mà còn dành cho bất kỳ ai quan tâm đến khoa học, đạo đức y học và những câu chuyện về lòng nhân ái.

Sách thuộc Tủ sách Y sinh – Hồi ký của Omega Plus.

THÔNG TIN TÁC GIẢ

Joshua D. Mezrich tốt nghiệp Đại học Y Cornell và hiện là giáo sư phẫu thuật ghép tạng tại Đại học Wisconsin. Bên cạnh công việc đầy áp lực, ông vẫn dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và viết lách. Từ những trải nghiệm nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết, Mezrich mang đến cho độc giả những câu chuyện chân thực về y học, ghép tạng và lòng nhân ái bằng giọng văn giàu trí tuệ và sự thấu cảm.

ĐÁNH GIÁ/NHẬN XÉT CHUYÊN GIA

The New York Times Book Review: "Một cuốn hồi ký y khoa vô cùng cuốn hút, thẳng thắn và đầy lòng trắc ẩn. Mezrich đã lột tả hoàn hảo sự kỳ diệu và khắc nghiệt của ngành ghép tạng."
Siddhartha Mukherjee: "Cuốn sách mở ra cánh cửa hiếm hoi vào một thế giới tuyệt vời, nơi lằn ranh sự sống và cái chết được định hình lại bởi lòng dũng cảm của các bác sĩ và sự hy sinh cao cả từ người hiến tạng."

Booklist: "Đầy kịch tính, nhân văn và sâu sắc. Tác giả đã biến những ca phẫu thuật phức tạp thành một câu chuyện sử thi hiện đại về sự sinh tồn."

TRÍCH ĐOẠN/ CÂU QUOTE HAY

Tr 49: Khi tôi bắt đầu năm thứ ba tại trường y, tôi vẫn nghĩ mình sẽ trở thành bác sĩ chuyên về ung thư ở trẻ em – cho đến khi tôi đi thực tập về nhi khoa. Tôi không mất quá nhiều thời gian để nhận ra đó không phải là lĩnh vực dành cho mình. Nhịp độ công việc chậm chạp, những bậc cha mẹ luôn khó khăn và tôi phải dành quá nhiều thời gian để kiểm tra thể chất của trẻ nhỏ. Sau đó tôi thực tập về sản phụ khoa. Dù thoải mái hơn ở lĩnh vực này, đặc biệt với sự phấn khích khi lần đầu tiên giúp một em bé chào đời, nhưng tôi cũng nhanh chóng nhận ra mình không phải một bác sĩ phụ khoa tài năng. Đợt thực tập tiếp theo là về nội khoa. Tôi trò chuyện với bệnh nhân, lắng nghe những điều họ kể và tìm hiểu xem vấn đề là gì. Nhưng tôi không thích nhịp độ cũng như sự kéo dài của những căn bệnh. Bệnh nhân nào cũng mắc tiểu đường, cao huyết áp, hay ung thư. Chúng tôi sẽ không chữa khỏi bất kỳ căn bệnh nào trong số này. Mỗi ngày, chúng tôi khám cho 25 bệnh nhân và chỉ dành 15 phút cho mỗi người. Thời gian ấy còn chẳng đủ để giải quyết bất cứ thứ gì trong vô số vấn đề của một người. Chúng tôi sẽ tập trung vào một hay hai thứ, điều chỉnh hay kê thêm một vài loại thuốc. Công việc cứ tiếp diễn, nhưng chúng tôi không thể chắc chắn rằng bất kỳ khuyến cáo nào của mình, về lối sống và thuốc men, có thực sự được áp dụng hay không. 

Tiếp đến là phẫu thuật. Đợt thực tập này của tôi bắt đầu vào tháng 1, ngay sau kỳ nghỉ lễ. Tôi đến bệnh viện vào khoảng 4 rưỡi sáng để đi buồng – thăm khám một số bệnh nhân, lấy kết quả xét nghiệm và ghi chép tiến triển của họ. Không kể những thanh âm từ các điều dưỡng và một vài sinh viên y khoa đang thu thập thông tin bệnh nhân, bầu không khí trong bệnh viện thật yên tĩnh. Thực tập sinh xuất hiện vào khoảng 5 rưỡi; các sinh viên y khoa thông báo tình hình bệnh nhân cho họ. Vào lúc 7 giờ, chúng tôi gặp nhau trong quán ăn tự phục vụ để trình bày những ca bệnh cho bác sĩ nội trú năm cuối. Các sinh viên y khoa ngồi im lặng, không dám nói chuyện hay ăn uống. Bác sĩ nội trú năm ba trình bày trước bác sĩ nội trú năm cuối; ném ánh mắt sắc bén của mình về phía các thực tập sinh, cô ra lệnh cho họ làm rõ bất kỳ chi tiết nào mà cô chưa biết. Bác sĩ nội trú năm cuối lắng nghe, thản nhiên ăn một chiếc bánh vòng. 

Tôi đến phòng mổ lúc 7 rưỡi và khử trùng tay trước khi tham gia hai ca mổ tự chọn, một ca là cắt bỏ khối u trực tràng và ca kia là cắt bỏ gan; khi ấy, tôi đã bị phê bình nặng vì không làm tốt việc cắt chỉ khâu. Sau đó, tôi đi buồng một lần nữa cùng cả nhóm, thu thập thêm dữ liệu bệnh nhân và đi đến một hội nghị. Trong buổi sáng hôm ấy, tôi được biết mình được phân công trực đêm. Đây là sự rèn luyện tốt cho 12 năm tiếp theo trong cuộc đời tôi. Đừng lên kế hoạch. Bạn phải sẵn sàng cho công việc cả ngày lẫn đêm, vào cuối tuần, ngày lễ cũng như các buổi sinh nhật trong gia đình. 

Khoảng 10 giờ tối, chúng tôi đưa một bệnh nhân bị tắc ruột đến phòng mổ. Cả ngày hôm đó, tôi chưa kịp ăn uống gì do quá lo lắng và bận rộn. Cơn chóng mặt ập đến. Tôi còn nhớ mình đã nhìn thấy phần ruột căng phồng của bệnh nhân với thứ chất lỏng đang di động qua lại bên trong. Cơ thể tôi xỉu đi và toát mồ hôi đầm đìa. Bằng cách nào đó, tôi nghiến răng vượt qua tình trạng này. Khi ca mổ kết thúc vào khoảng 2 giờ sáng, bác sĩ nội trú bảo tôi đi khử trùng tay tại phòng mổ bên cạnh. Tại đó, họ đang bắt đầu ghép thận. 

Tất cả tôi thực sự muốn vào lúc đó là một giấc ngủ, nhưng dù sao tôi vẫn đi vào. Và chuyện xảy ra là một điều thật tuyệt vời. Stubenbord là một bác sĩ phẫu thuật ghép tạng. Tôi không bao giờ quên vẻ đẹp giản dị của quá trình ghép thận, cũng như cảm giác kỳ diệu khi chứng kiến thận chuyển sang màu hồng. Màn đêm đang tiếp diễn, tiếng nhạc cổ điển vang lên, bằng chứng cho thấy thận ghép đã hoạt động đang hiển hiện trước mắt; một cảm nhận khác thường dâng lên trong căn phòng, cho thấy chúng tôi đang làm nên một phép màu. Một người vừa mới qua đời đã chuyển sự sống của mình cho một người anh ta chưa từng gặp mặt, và chúng tôi là những người giúp điều đó thành hiện thực. (Không, tôi chưa hẳn là người làm điều ấy; lúc đó tôi mới chỉ chứng kiến.) Điều đó thật phi thường làm sao. Tôi tự hỏi điều ấy còn có thể xảy ra với những bộ phận nào khác. Vào thời điểm ấy, dù không có bất cứ ý niệm nào, nhưng tôi biết mình muốn tìm hiểu. Tôi đã hoàn toàn bị lôi cuốn. 

Ba tháng thực tập ngoại khoa đã tác động lớn đến cuộc đời tôi. Theo nhiều phương diện, tôi đã tình cờ trở thành bác sĩ phẫu thuật. Dù vậy, sự nghiệp ấy lại giống như một sứ mệnh – với một cam kết lớn lao và trọng trách khổng lồ: nắm giữ sự sống của một người và chịu trách nhiệm về những điều xảy ra tiếp theo. Cảm giác toại nguyện khi hoàn thành tốt đẹp một ca phẫu thuật, khi thúc ép bản thân làm đúng mọi việc và giúp người khác khỏe mạnh hơn – cảm giác ấy là một sự say mê gần như thần thánh. Tôi cũng yêu quý nhóm thực tập mình cùng làm việc trong ba tháng ấy; chúng tôi hoạt động như một cỗ máy nhịp nhàng. 

Đến cuối năm ba, giáo viên hướng dẫn đặt câu hỏi về lĩnh vực chúng tôi muốn theo đuổi. Tôi không thể ngừng suy nghĩ về ghép thận. Tôi đã có thêm một vài lần trải nghiệm nữa trong đợt thực tập ngoại khoa, và sự cuốn hút vẫn không hề vơi bớt. Tôi chưa từng thấy một ca ghép gan, tụy hay tim. Tuy nhiên, tôi vẫn không thể quên được ấn tượng rằng chúng ta có thể lấy thận từ một người mới qua đời để ghép cho người khác, và ngay cả khi một ngày đã trôi qua, quả thận sẽ lại hoạt động. Việc ấy dường như thật đơn giản. Khi ấy, tôi tự hỏi bản thân liệu mình có thể tự làm điều gì đó tương tự không.

Dù Alexis Carrel đã chứng minh ghép thận giữa các sinh vật sống là hoàn toàn khả thi về mặt kỹ thuật, nhưng nếu đứng độc lập, điều này không thể làm dịu bớt sự tuyệt vọng của cả bệnh nhân suy thận và bác sĩ của họ trong nửa đầu thế kỷ XX. Phải cần đến một tiến bộ khác trong lĩnh vực chăm sóc cho các bệnh nhân này thì việc ghép tạng mới có thể được coi là một lựa chọn lâm sàng. Đây là lúc chúng ta cùng đề cập đến lọc máu. 

Có một điều gì đó ở các đơn vị lọc máu luôn gợi nhắc tôi về bộ phim Ma trận – không phải những thước phim quay chậm khi Neo nghiêng mình tránh những viên đạn, mà là hình ảnh loài người bị bó buộc vào ma trận thông qua cổng kết nối ở gáy họ. Chi tiết đó ít nhiều cho thấy cách hoạt động của lọc máu nhân tạo, và dáng dấp của nó thật khủng khiếp.

Khi thận ngừng hoạt động, máu phải được lọc theo một cách nào đó, nếu không bệnh nhân sẽ tử vong. Phương pháp phổ biến nhất là thẩm tách máu. Để thực hiện kỹ thuật này, trước tiên, chúng tôi phải tạo ra vị trí để chèn kim. Thông thường, bác sĩ phẫu thuật sẽ rạch một vết ở cẳng tay hoặc cánh tay trên và khâu nối phần cuối của tĩnh mạch vào động mạch (thường ở cổ tay hoặc khuỷu tay). Dưới áp lực của máu động mạch, tĩnh mạch sẽ phồng lên và to như một chiếc xúc xích. Một khi điểm kết nối này lành lại và thành tĩnh mạch dày lên, những chiếc kim lớn có thể được cắm vào mạch máu này ở cả hai bên động mạch và tĩnh mạch. Từ chiếc kim được cắm gần động mạch, máu được rút ra và đi tới máy lọc máu. Tại đây, máu đi qua một màng lọc được bao quanh bởi dung dịch thẩm tách có khả năng lọc chất điện giải và độc tố, sau đó quay lại cơ thể qua chiếc kim cắm vào tĩnh mạch. Quá trình này kéo dài từ ba đến bốn giờ. Trong suốt khoảng thời gian này, bệnh nhân phải ngồi một chỗ và giữ thẳng tay để tránh làm xoắn đường ống hay tuột kim. Chúng tôi cố gắng tạo điểm thông động mạch và tĩnh mạch ở tay không thuận, như vậy, bệnh nhân có thể sử dụng tay kia để làm các việc khác như viết hoặc đọc. 

Quá trình ấy thực sự khổ sở. Không chỉ bị bó buộc vào một cái ghế trong suốt bốn giờ đồng hồ, ba lần một tuần, nhiều bệnh nhân còn cảm thấy rất tệ trong và sau mỗi lần lọc máu với các triệu chứng như mệt mỏi, lạnh, đau đầu và chuột rút. Sau khi lọc máu, bệnh nhân thường dành thời gian còn lại trong ngày để nằm giường. Nhiều bệnh nhân mô tả với tôi, lọc máu giúp họ tồn tại, nhưng đó là một sự tồn tại ngoài sức chịu đựng. Vậy thì, liệu có con đường nào khác không? 

Người phát minh ra lọc máu hẳn không bao giờ coi việc ấy là một lựa chọn điều trị lâu dài. Khi ấy, Willem Kolff đang bí mật chế tạo máy lọc máu từ vỏ xúc xích và động cơ máy khâu ở Hà Lan, một đất nước đang bị Đức Quốc xã chiếm đóng. Trong suốt thời gian đó, ông cũng đồng thời giúp quân kháng chiến Hà Lan chống lại lính Đức. 

Kolff sinh ra ở Leiden, Hà Lan, vào năm 1911. Cha của ông, khởi đầu là một bác sĩ gia đình, cuối cùng đã quyết định điều hành một cơ sở điều trị bệnh lao. Kolff tiếp xúc đáng kể với công việc của cha mình và trở nên say mê với y học. Ông cũng có sở trường làm đồ gỗ và sửa chữa cơ khí. Điều ông thích nhất về triển vọng trong ngành y là cơ hội giải quyết vấn đề, đặc biệt là bằng cách tạo nên một thứ gì đó bằng chính đôi tay mình. 

Kolff tốt nghiệp trường y vào năm 1938 và bắt đầu hành nghề. Có rất nhiều ví dụ về những phát minh có khả năng giúp đỡ cho bệnh nhân của ông, bao gồm cả phiên bản đầu tiên của thiết bị mát xa theo chu kỳ – một thiết bị được buộc quanh chân bệnh nhân, có khả năng phồng lên và xẹp đi đều đặn để ngăn ngừa sự hình thành cục máu đông. Lần đầu tiên Kolff thực sự tiếp xúc với bệnh suy thận, cũng như biết đến sự bất lực khi chăm sóc cho các bệnh nhân này là khi ông chứng kiến cái chết của một bệnh nhân 27 tuổi tên là Jan Bruning. Bruning mắc bệnh Bright, một thuật ngữ cũ được dùng để chỉ nhiều tình trạng dẫn đến bệnh thận, một số có thể phục hồi, một số thì không. Vào những năm 1930, rất nhiều phương pháp điều trị không có tác dụng với bệnh Bright, bao gồm thay đổi chế độ ăn uống, trích máu (hiếm khi là một lựa chọn tốt) và tắm (ít nhất nghe có vẻ dễ chịu). Tuy nhiên, Kolff không đồng tình với các biện pháp ấy. Ông không trở thành bác sĩ chỉ để chứng kiến những người trẻ tuổi chết ngay trước mặt mình trong khi đang tắm cho họ. Ông hình dung như sau: Thận chỉ đơn giản là một bộ lọc có vai trò làm sạch máu khỏi các chất thải; và theo ông biết, urê là một trong số các chất độc chính. Việc lọc máu có thể khó khăn đến đâu chứ? Nếu có thể làm sạch máu, dù chỉ trong một thời gian ngắn, có lẽ ông sẽ giúp thận có được một khoảng thời gian nào đó để nghỉ ngơi và phục hồi.

Ý tưởng này đã được thử nghiệm vài lần trước Thế Chiến I, nhưng không mấy thành công. Vào thời điểm đó, vẫn chưa có loại màng lọc cho phép các phân tử có kích thước nhất định đi qua, nhưng vẫn có thể giữ lại các phân tử lớn hơn như tế bào máu và các protein quan trọng. Ngoài ra, nếu được đặt trong vật chứa và cho tiếp xúc với loại màng như vậy, máu sẽ bị đóng cục. Kolff biết mình có thể vượt qua cả hai rào cản này vì… ông thích xúc xích, hoặc ít nhất, ông để ý rằng xúc xích được bọc trong cellophane – một loại màng nhân tạo làm từ cellulose tái sinh, ăn được, có thể giữ hình dạng của xúc xích nhưng vẫn cho phép hương vị khuếch tán qua màng. Ông cũng biết cellophane vốn được sử dụng để lọc sạch nước ép trái cây. Kolff và một số đồng nghiệp cho rằng nếu bằng cách nào đó cho máu tiếp xúc với màng cellophane trên một diện tích bề mặt lớn, đồng thời ở phía bên kia màng, có một bể chất lỏng không chứa urê (cũng như bất cứ protein hoặc chất điện giải nào cần loại bỏ), ông có thể làm sạch máu. Ông lấy một lượng vừa đủ máu của bản thân và hòa thêm urê theo nồng độ ước tính có trong máu bệnh nhân suy thận. Sau đó, ông đổ hỗn hợp ấy vào vỏ xúc xích và đặt nó lên một tấm ván nổi trong bồn nước. Tấm ván được gắn thêm một động cơ nhỏ để có thể lắc qua lại, khiến máu dao động bên trong vỏ và tiếp xúc đều với màng cellophane. Năm phút sau, ông kiểm tra mẫu máu và ngạc nhiên khi thấy gần như tất cả urê đã đi vào trong nước. Và như vậy, ông đã phát minh ra phương pháp lọc máu nhân tạo. 

Tuy nhiên, vẫn còn đó những thách thức: phải tạo diện tích bề mặt để máu tiếp xúc với cellophane, tránh đông vón khi máu đang được lọc, tìm cách đưa máu từ bệnh nhân vào hệ thống lọc và sau đó quay lại, đó là chưa kể đến việc phải biết được có thể rút ra và sau đó truyền lại cơ thể bao nhiêu máu mà không khiến bệnh nhân tử vong. Tuy nhiên, cũng như rất nhiều người tiên phong, sự kết hợp đúng đắn của trí tuệ, tầm nhìn, niềm tin, khả năng phớt lờ những người chỉ trích và niềm đam mê thường trực bất chấp mọi rào cản đã khiến Kolff trở thành con người được sinh ra để dành cho công việc này. Tuy nhiên, ngoài những thách thức kỹ thuật, Kolff còn phải đối phó với một trở ngại lớn khác: Đức Quốc xã. 

Hà Lan bị xâm lược vào ngày 10 tháng 5 năm 1940. Quân đội Hà Lan đã bị đánh bại trong vòng chưa đầy một tuần. Đó là một đòn choáng váng với Kolff, một người căm ghét chính sách của Đức Quốc xã. Ông phải chứng kiến nhiều bạn bè và đồng nghiệp người Do Thái bị trục xuất, giết hại, và thật đáng buồn, nhiều người trong số họ đã tự tử. Có lẽ tác động lớn nhất với Kolff là cái chết của cấp trên, đồng thời là cố vấn của ông, Leonard Polak Daniels, một trong số ít bác sĩ có uy tín tin vào các phát minh y khoa có tầm nhìn của Kolff. Sau khi quân Đức xâm chiếm Hà Lan, Daniels thà tự sát còn hơn rơi vào tay quân đội của Hitler. Người kế nhiệm ông tại một bệnh viện đại học lớn ở Groningen là một kẻ trung thành ủng hộ Hitler. Điều này đã khiến Kolff về làm việc tại một bệnh viện nhỏ ở thị trấn Kampen vào tháng 7 năm 1941. Động thái này lại tình cờ cho ông cơ hội tiếp tục kế hoạch của mình mà chẳng cần suy tính quá nhiều.