Những ngộ nhận của người Pháp về Đông Dương
Khi Pháp đến Đông Dương cùng “sứ mệnh khai hóa thuộc địa”, có thể nói họ đã tự cho mình quyền lực cao hơn sắc dân bản địa vốn đã tồn tại nơi đây từ rất lâu đời. Nhưng may mắn thay vẫn có những người thấy điều ngược lại, mà Eugène Brieux - Viện sĩ Hàn lâm Pháp quốc - là một trong số đó.
Trong “Việt Nam tiếng vọng về quá khứ”, bài luận “Lược ghi của một lữ khách” được đặt ngay ở đầu sách không phải không có lý do, bởi qua đó ta biết những người đến từ “mẫu quốc” cũng có những trăn trở riêng về chính vùng đất họ vừa mới đến. Nhãn quan Brieux cho thấy sự trân trọng và tiếp cận hợp lý với An Nam xưa. Ông không ngại phản bác nhiều ngộ nhận của các đồng hương, qua đó thế hệ sau có thể nhìn thấy ở đó sự thượng đẳng đã từng tồn tại.

Đơn cử ông kể lại một câu chuyện thú vị, rằng khi người Pháp về với cố quốc, câu hỏi họ nhận nhiều nhất là: “Các anh ăn gì, mặc gì, sinh hoạt ra sao” bởi nhiều người vẫn tin Đông Dương là nơi “hoang vu chướng khí”, con người sống trong lều, mặc khố, ăn rễ cây... Và nếu không ngã về hướng tiêu cực, thì thuộc địa mới lại bị nhìn nhận một cách tích cực gần như thái quá là nơi thiên đường.
Brieux phản bác điều đó bằng sự khác biệt với mẫu quốc Pháp: mùa hè vô cùng khắc nghiệt, trong khi miền Bắc vào mùa đông thì người Âu cũng dễ bị cảm lạnh và ở một số vùng sốt rét luôn luôn rình rập. Đó còn chưa nói đến không thể tìm được rau xanh và củ quả của quê nhà vì chúng không được nhập khẩu qua đây. Sau một thời gian, người tráng kiện nhất cũng trở nên yếu nhược và mọi nỗ lực hồi còn ở Pháp, với người đó sẽ chỉ như một trò đùa. Mơ ước về đời sống phong phú, rộng lớn và tự do của các xứ thuộc địa cũng là bong bóng vô cùng mỏng manh, bởi chỉ có những viên chức và các yếu nhân được hưởng đặc quyền đặc biệt. Cả hai góc nhìn đến từ hai cực đều cho ta thấy sự “đơn giản hóa” Đông Dương vừa như miền đất hứa, vừa như một chốn khổ ải thiếu đi thực tế.
Sở dĩ có những điều đó bởi họ không hiểu được người An Nam. Brieux dẫn ra người Pháp luôn nghĩ rằng chữ “bản xứ” được dùng chỉ chung cả người da đen Senegal, người Ả Rập hoặc người An Nam. Tuy nhiên không phải giống dân nào thì cũng giống nhau, thậm chí có lúc họ còn vượt trội hơn người mới đến. Điều đó thể hiện qua việc người An Nam sở hữu nền văn minh lâu đời hơn và hoàn hảo hơn sắc dân da trắng ở một vài khía cạnh. Chẳng hạn trước khi họ đến, người dân nơi đây không hề biết đến tệ nạn, tửu sắc và nghèo đói. Người trong một nhà hoặc một làng xã đoàn kết tương trợ nhau đến độ không ai phải chịu nghèo đói như có những giai đoạn đất ruộng của làng được đem chia cho toàn bộ dân chúng... Tóm lại, theo Brieux, đời sống nói trên mang đậm dấu ấn tao nhã, khiêm nhu mà bất kỳ mối quan hệ nào cũng toát ra sự lễ độ văn nhã, trái ngược với sự thô lỗ của những người Pháp.
Sự thiếu thấu hiểu chỉ là bước đầu, bởi khi đặt chân đến đây, người Pháp cũng đã mang đến những lề thói xấu. Theo chân quân đội, đó là những “con buôn ào ạt đổ tới” cướp bóc, giết người, xem các sinh linh hệt như cỏ rác... Ông mạnh mẽ lên án: “Xin thành thật tự vấn xem chúng ta đã mang lại gì cho người dân để họ có thể yêu mến chúng ta đây? Thứ mà ta coi là ơn huệ, là ích lợi thì họ lại không màng. Họ đã sai lầm: tôi thừa nhận điều ấy.”
Ông càng đi sâu hơn vào sự đánh tráo khái niệm, rằng nếu người Pháp nói đã có công mở rộng đường xá, thì nói đúng hơn là người An Nam đã bị ép buộc lao dịch mở mang đường qua lối lại chỉ với mục đích duy nhất là kiểm soát hoặc giải quyết nhu cầu tản bộ của các nhà cai trị! Ông cũng nói thêm rằng dân tộc mình đã làm tổn thương lòng tự trọng của dân An Nam: Rằng họ đã trọng dụng kẻ phản bội, kẻ bán nước và trao cho chúng quyền cai trị dân lành. Họ đã đối xử với các bậc trưởng lão như nô lệ và đối thoại với họ một cách xấc xược. Họ đã xem thường mọi tôn ti trật tự và tróc nã tận gốc rễ nền tảng tín ngưỡng, định kiến, truyền thống cao quý cổ xưa.... Do đó họ phải trả giá. Đây có thể nói như một điềm báo cho sự thất bại rồi sẽ đến sớm những năm sau đó, và là góc nhìn vô cùng tiên tiến ở giai đoạn này.
Ngoài điều đó ra, trong bài luận “Lược ghi của một lữ khách”, ông cũng nhận ra một thế lực khác vẫn luôn ở đó và mối đe dọa luôn luôn hiện hữu: Trung Hoa. Ông viết rằng: “Dẫu thế nào, chúng ta cũng nên hiểu rằng Đông Dương không thể thuộc về chúng ta mãi mãi. Nếu ta không trả lại xứ này cho người An Nam thì sẽ có kẻ khác tước đoạt nó. Kẻ khác ấy chính là Trung Hoa”.
Góc nhìn nói trên không phải phi lý, bởi ngay tại xứ An Nam, lực lượng người Hoa không những đông đảo mà sự đè nén người Pháp gieo rắc càng làm dân chúng ngày càng bất bình. Brieux nhận thấy “Chúng ta là chủ nhân trên danh nghĩa, còn chủ nhân thực quyền chính là người Hoa”. Lập luận này dựa trên những khác biệt lớn: trong khi Hoa kiều có tới 200.000 người, thì quân Pháp ở giai đoạn này chỉ có lực lượng bằng 1/20 số đó. Không dừng ở đó, nếu người Pháp gửi đến đây binh lính, thì với Trung Hoa đó là nhà buôn. Ông chiêm nghiệm buồn bã: “Chúng ta ôm giấc mơ sở hữu một thuộc địa để làm giàu cho chính quốc còn họ thực hiện giấc mơ đó. Chúng ta cai trị thuộc địa, còn họ khai thác thuộc địa”.
Vấn đề nói trên còn được hậu thuẫn bởi lịch sử gắn bó dài lâu. Đơn cử với người An Nam, người Pháp hoàn toàn xa lạ, trong khi người Hoa lại nắm trong tay toàn bộ nền thương mại: Họ men theo kinh rạch thu mua toàn bộ thóc gạo trong xứ, họ sở hữu và điều hành các nhà máy xay xát ở Chợ Lớn và đem lợi nhuận kếch xù hồi hương. Có thể nói tiềm lực thương mại của họ thật là phi thường. Điều đó còn phải kể đến tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau của những người Minh Hương. Họ thấu hiểu nhau, đối xử công bằng, không thiên vị ai.
Ông trầm ngâm nghĩ: “Bạn hãy nói cho tôi xem, làm thế nào chúng ta mơ tới chuyện bảo vệ Bắc kỳ trước người Hoa nếu một ngày họ cảm thấy bị gò bó, bị cản trở trong làm ăn và họ đem một đạo quân vượt cửa khẩu Lạng Sơn vào đây? Dọc theo đường biên giới, chúng ta không có nổi một pháo đài kiên cố hòng kháng cự họ, dù là kháng cự chút đỉnh. Vài tiểu đoàn viễn chinh thì làm được gì trước biển người Hoa? Thêm nữa, nếu kẻ gây hấn kia sở hữu một hạm đội thì họ sẽ tiến vào Nam kỳ từ ngả Vũng Tàu không chút trở ngại. Sự kháng cự sẽ là bất khả bởi chúng ta đã xóa sổ lực lượng phòng thủ hải quân trên sông Sài Gòn”.
Nhận thấy điều đó, ông đặt ra câu hỏi người Pháp sẽ phải làm gì để ngăn chặn viễn tưởng ấy? Theo Brieux, đó là phải tìm cách tạo dấu ấn càng sâu sắc càng tốt cho dân tộc An Nam, từ đó tài năng của mẫu quốc sẽ lưu tồn mãi trên mảnh đất này - nơi những chiến sĩ vô danh đã ngã xuống vì lợi ích hoặc vì một lý tưởng mà người xứ này không thể hiểu thấu, để sự hy sinh ấy không bị lãng phí. Nhưng nhãn tiền nhất là phải hiểu rằng cuộc chinh phục Đông Dương vẫn chưa hoàn tất, dù khởi nghĩa Yên Thế đã bị dẹp yên, triều đình phía Huế cũng khá yên ắng... Tất cả những điều nói trên chỉ có thể đạt được một khi mẫu quốc công bằng, mạnh mẽ, trung thực và không áp đặt tư tưởng lên người An Nam.