THÔNG TIN XUẤT BẢN
| ISBN: 9786320073153 | Giá bìa: 189.000 VNĐ |
| Barcode: 8935270705992 | Trọng lượng: |
| Số trang: 292 | NXB: Dân Trí |
| Khổ: 16x24 cm | Năm XB: 2026 |
| Loại bìa: Bìa mềm tay gấp |
NỘI DUNG CHÍNH
Tiến trình cá nhân hóa trong tâm lý học phân tích của Carl Gustav Jung và con đường giác ngộ của Phật giáo có thực sự giao thoa? Giữa hai hệ thống tư tưởng phương Đông và phương Tây, đâu là những điểm tương đồng và khác biệt trong cách nhìn nhận về cái tôi, Tự ngã và hành trình thấu hiểu bản thân?
Trong “Phật giáo và Tâm lý học Jung”, hai tác giả J. Marvin Spiegelman và Mokusen Miyuki tìm lời giải cho những câu hỏi này thông qua việc nghiên cứu, đối chiếu các khái niệm của tâm lý học phân tích với tư tưởng và thực hành Phật giáo. Từ những trải nghiệm cá nhân đến các giáo lý, biểu tượng và phương pháp thiền định, cuốn sách làm rõ những điểm gặp gỡ cũng như khác biệt giữa hai lĩnh vực, đặc biệt trong cách lý giải tiến trình chuyển hóa tâm lý và hành trình hướng đến sự giác ngộ.
Một trong những vấn đề xuyên suốt cuốn sách là mối quan hệ giữa cái tôi, Tự ngã và quá trình phát triển đời sống nội tâm. Hai tác giả đưa ra những phân tích nhằm bác bỏ quan niệm cho rằng Phật giáo hướng đến việc làm tan biến cái tôi, đồng thời làm rõ mối tương quan giữa khái niệm “tâm” trong triết học phương Đông và “trí” trong chủ nghĩa duy lý phương Tây. Dưới góc nhìn tâm lý học Jung, tiến trình cá nhân hóa được xem xét trong mối liên hệ với các trải nghiệm và thực hành Phật giáo, từ việc đối diện với những nội dung vô thức, tích hợp chúng vào ý thức đến sự chuyển hóa từ trạng thái lấy cái tôi làm trung tâm sang lấy Tự ngã làm trung tâm.
Để làm rõ những mối liên hệ này, cuốn sách tiếp cận nhiều nội dung quan trọng của Phật giáo như Tứ Diệu Đế, Duyên khởi, Trung đạo, vô ngã, giác ngộ, thiền định và pháp môn niệm Phật. Các tác giả phân tích cách hiểu về duhkha (khổ, bất an), khả năng thay đổi thái độ của con người trước những trải nghiệm trong cuộc sống, cũng như vai trò của thiền định trong việc đối diện với những nội dung vô thức và phục hồi sự cân bằng nội tâm khi trải qua khủng hoảng. Trải nghiệm giác ngộ của Đức Phật, thực hành niệm Phật trong Tịnh Độ tông và sự chuyển hóa tâm thức cũng được soi chiếu qua các khái niệm của tâm lý học phân tích, qua đó làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai cách tiếp cận.
Bên cạnh đó, cuốn sách còn bàn về thái độ trước cái chết và những biến đổi lớn trong cuộc đời thông qua khái niệm isagi-yoku của văn hóa Nhật Bản. Từ sự khác biệt trong cách nhìn nhận cái chết giữa phương Đông và phương Tây, các tác giả đề cập đến việc đón nhận cái chết và những khủng hoảng bằng sự điềm tĩnh, tự chủ, không vương vấn và đầy phẩm giá, đồng thời xem những trải nghiệm này trong mối liên hệ với sự trưởng thành về mặt tinh thần.
Điểm nhấn đặc biệt của “Phật giáo và Tâm lý học Jung” nằm ở phần bình giải bộ tranh “Thập mục ngưu đồ” của Thiền tông, qua đó đối chiếu hành trình tìm trâu, chăn trâu với tiến trình cá nhân hóa, hay tiến trình hiện thực hóa Tự ngã, trong tâm lý học phân tích của Jung.
Lấy bộ mười bức tranh của Khuếch Am làm trọng tâm, các tác giả phân tích hành trình tự chuyển hóa và dung hợp những nội dung vô thức vào ý thức của mỗi cá nhân. Những hình ảnh này tiếp tục được so sánh với bộ tranh của Phổ Minh và bộ tranh Rosarium của giả kim thuật từng được Jung sử dụng, nhằm làm rõ những điểm giống và khác nhau giữa các tiến trình được thể hiện qua những hệ thống biểu tượng.
Cuốn sách có 20 hình minh họa đen trắng, gồm hai bộ Thập mục ngưu đồ của Khuếch Am và Phổ Minh, mỗi bộ mười bức. Bên cạnh phần bình giải tranh, tác phẩm còn có truyện hư cấu “Lãng nhân”, kể về hành trình một nhân vật tự tìm hiểu chính mình thông qua những cuộc trò chuyện với hai nhân vật đến từ các tôn giáo và nền văn hóa khác nhau.
Một yếu tố đáng chú ý khác của cuốn sách đến từ nền tảng chuyên môn và trải nghiệm thực hành của chính hai tác giả. J. Marvin Spiegelman và Mokusen Miyuki đều được đào tạo và tốt nghiệp tại Viện C.G. Jung ở Zurich, có chuyên môn về trị liệu phân tích theo trường phái Jung. Trong sách, hai tác giả chia sẻ về cơ duyên tiếp cận lý thuyết của Jung, hành trình đào tạo và thực hành trị liệu phân tích, cũng như những trải nghiệm thiền định và tự quán chiếu của bản thân.
Là những người thực hành kỹ thuật tự phân tích từ các chất liệu vô thức của chính mình, hai tác giả từng bước tích hợp phần vô thức vào ý thức trong tiến trình cá nhân hóa. Những trải nghiệm này cũng được đặt trong mối liên hệ với việc tự quán chiếu trong Phật giáo, tạo nên sự kết hợp giữa nghiên cứu, thực hành và suy ngẫm cá nhân trong cách tiếp cận các vấn đề của cuốn sách.
Với văn phong dễ đọc, gần gũi, dung hòa giữa góc nhìn tâm lý học phương Tây và hệ thống thuật ngữ Phật giáo phương Đông, “Phật giáo và Tâm lý học Jung” mang đến những phân tích về mối liên hệ giữa hai hệ thống tư tưởng, từ các khái niệm về cái tôi và Tự ngã đến thiền định, giác ngộ và tiến trình cá nhân hóa.
Cuốn sách đồng thời đưa ra những gợi mở về việc tự quán chiếu, tìm hiểu thế giới nội tâm và thực hành thiền định với một tâm trí thức tỉnh, trên hành trình mỗi cá nhân hướng đến sự thấu hiểu bản thân.
Sách thuộc Tủ sách Khoa học - Tâm lý học của Omega Plus.
Ý nghĩa của bìa sách
Điểm nhấn trên bìa sách là hình vẽ mạn-đà-la (mandala) của một bệnh nhân từng được Carl Jung trị liệu, với những đường nét gợi liên tưởng đến hình ảnh hoa sen trong Phật giáo.
Đây là hình vẽ gắn với phương pháp trị liệu của Jung, khi ông sử dụng mạn-đà-la để phân tích và đặt câu hỏi cho bệnh nhân sau quá trình tiếp xúc, tìm hiểu về Phật giáo.
THÔNG TIN TÁC GIẢ
Tiến sĩ J. Marvin Spiegelman (1926–2017)
Nhận bằng Tiến sĩ từ Đại học California, Los Angeles (UCLA) và là chuyên gia tâm lý học lâm sàng được Hội đồng Tâm lý học Chuyên nghiệp Hoa Kỳ (ABPP) chứng nhận. Ông tốt nghiệp Viện C.G. Jung tại Thụy Sĩ và từng giảng dạy các khóa học về tâm lý học Jung tại Đại học UCLA, Đại học Nam California (USC). Spiegelmen cũng là tác giả và đồng tác giả của nhiều cuốn sách về sự giao thoa giữa tâm lý học Jung và tôn giáo, đồng thời là biên tập viên của các tạp chí chuyên ngành như Journal of Analytical Psychology và Journal of Psychology and Judaism.
Tiến sĩ Mokusen Miyuki (1928–2016)
Có nền tảng học vấn đa văn hóa vững chắc, với bằng Cử nhân Tôn giáo Đông phương (Đại học Tokyo), Thạc sĩ Triết học Phương Tây (UCLA) và Tiến sĩ Châu Á học (Viện Cao học Claremont). Sau khi tốt nghiệp Viện C.G. Jung tại Thụy Sĩ, ông là giáo sư tại Đại học Bang California. Là nhà trị liệu phân tích trường phái Jung, đồng thời là tu sĩ Phật giáo, ông là tác giả và đồng tác giả của nhiều tác phẩm chuyên diễn giải sinh động các biểu tượng trong Thiền tông và Phật giáo bằng ngôn ngữ của tâm lý học phân tích.
THÔNG TIN DỊCH GIẢ
Dịch giả: Lê Hồng Vân
Lê Hồng Vân (1981) có hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, dịch thuật và xuất bản. Chị tốt nghiệp Cử nhân tiếng Anh loại Giỏi (Đại học Hà Nội) và Thạc sĩ Quản lý Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội). Chị từng giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành sinh học tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, điều phối chương trình đào tạo đại học tại Trường Quốc tế (ĐHQGHN), và giảng dạy biên phiên dịch tại Trường Đại học Ngoại ngữ (ĐHQGHN). Hiện chị là thành viên Hội đồng Khoa học Viện Tâm lý & Truyền thông IPM.
Từ năm 2019, Lê Hồng Vân làm biên dịch tự do toàn thời gian. Chị đặc biệt quan tâm và dành nhiều tâm huyết cho sách phi hư cấu về chủ đề triết học và tâm lý học. Các đầu sách tiêu biểu chị đã dịch:
- Các bài nói chọn lọc về tâm lí học (1891–1899) (Talks to Teachers on Psychology, and to Students on some of Life’s Ideals), William James. Truebooks & NXB Hội Nhà văn, 2025.
- Giảm đau đớn bằng thiền định (Mindfulness Meditation for Pain Relief), Jon Kabat-Zinn. Viện Giáo dục IRED (PACE) & NXB Dân Trí, 2025.
- Bây giờ và ở đây – Thiền chánh niệm trong cuộc sống hằng ngày (Wherever You Go, There You Are), Jon Kabat-Zinn. Viện Giáo dục IRED (PACE) & NXB Tổng hợp TP.HCM, 2022.
- Lý thuyết sư phạm phê phán (Pedagogy of the Oppressed), Paulo Freire. Viện Giáo dục IRED & NXB Tri Thức, 2022.
- Quản trị liên văn hóa với đóng góp của ngành khoa học não bộ (Cross-Cultural Management: With Insights from Brain Science), Nguyễn Phương Mai. NXB Dân Trí, 2021.
- Chị cũng là tác giả cuốn sách hướng nghiệp Từng bước nhập môn hành nghề biên dịch (Quảng Văn & NXB Dân Trí, 2026).
TRÍCH ĐOẠN/ CÂU QUOTE HAY
Có thể chứng thực rằng bóng tối của tâm hồn con người phủ xuống tất cả chúng ta. Nếu chúng ta không biết cách đối diện với những cái bóng tập thể, hay mặt tối của mình một cách có ý thức hơn và ít phóng chiếu hơn, thì đến một ngày sẽ chẳng còn thiểu số nào nữa, và có lẽ cũng chẳng còn dân tộc nào nữa.
- J. Marvin Spiegelman (Trích “Đông và Tây...”)
Nghiệp là một tiến trình của đời sống, nó trung tính về mặt đạo đức và được cấu thành từ một mạng lưới liên kết động giữa hành động và phản ứng trong toàn thể vũ trụ. Cách hiểu này đối lập với quan niệm phổ biến về nghiệp như một luật “báo ứng” luân lý, một lối hiểu mà theo tôi dựa trên tiền đề độc thần của truyền thống Do Thái–Kitô giáo ở phương Tây. Vì vậy, sự ngộ ra nghiệp của riêng mình, cũng như sự ngộ ra mệnh hay “thiên mệnh” của chính mình, mang lại một cảm giác về tính cứu cánh.
- Mokusen Miyuki (Trích “Một vài suy ngẫm về năm thứ ba mươi...”)
Tôn giáo so sánh và huyền thoại học là những kho tàng phong phú các nguyên mẫu; và tâm lý học về giấc mơ cùng các chứng loạn thần cũng vậy.
- Carl Jung
Khi một điều gì đó còn ít được biết đến hoặc còn mơ hồ, người ta có thể hình dung nó từ nhiều góc độ khác nhau và vì thế, cần đến nhiều tên gọi khác nhau để diễn đạt bản tính đặc thù của nó.
- Carl Jung
Vì sự hiện thực hóa có tính chu kỳ hay xoáy ốc, được tượng trưng bởi vòng tròn rỗng, nên toàn thể đạt được vừa là kết thúc vừa là khởi đầu.
- Mokusen Miyuki (Trích “Tiến trình hiện thực hóa Tự ngã...”)
Tự tính có mặt ở bất cứ nơi nào ta nhìn và ở cả nơi ta không nhìn, vì ta ở trong Tự tính và ta là Tự tính....
- J. Marvin Spiegelman (Trích “‘Thập mục ngưu đồ’ của Thiền tông...”)
[N]ếu không biết chính mình thì làm sao biết được Tự tính? Làm sao biết được bản chất của toàn thể nếu không hiểu bản chất của chính mình?.
- J. Marvin Spiegelman (Trích “‘Thập mục ngưu đồ’ của Thiền tông...”)
Chỉ trong cuộc vật lộn của chính mình, trong nỗi đau của thiền định khô cằn, trong cơn giận trước đau đớn và khó chịu, trong những giấc mơ xám xịt và những hình ảnh ghê tởm, ta mới chạm được vào bóng tối của mình và rốt cuộc chạm tới cả bóng tối của cái linh thiêng.
- J. Marvin Spiegelman (Trích “‘Thập mục ngưu đồ’ của Thiền tông...”)
Chính việc trí năng hóa và khái niệm hóa đã chia lìa ta khỏi bản tính của mình. Nó dẫn đến việc ta đánh mất sự hồn nhiên, đánh mất sự kết nối với bản tính của mình, một thực tế mới khó để vượt qua làm sao. Vậy là một nghịch lý nữa lại xuất hiện: ta đã phát triển trí năng và khái niệm để tiến bộ trong ý thức. Nhưng để một lần nữa tiến xa hơn trong ý thức, ta lại phải quay về với bản tính không suy nghĩ của mình! Tức là, ta không còn đồng nhất mình chỉ với năng lực suy nghĩ nữa. Cái khó nằm chính ở đây. Có lẽ, nếu chỉ thoái lui để trở thành một con vật (dù việc đó cũng trở nên đáng ghét đối với chức năng đã được phân hóa của chúng ta) thì cũng chưa phải là khó lắm, nhưng sẽ rất khó để vừa quay về vừa tiến tới, vừa phục hồi bản tính của mình vừa thuần hóa nó.
- J. Marvin Spiegelman (Trích “‘Thập mục ngưu đồ’ của Thiền tông...”)
Thật khác nhau biết mấy giữa việc tọa thiền và mục tiêu của nó so với trị liệu tâm lý hiện đại của chúng ta! Thiền sư Thiền tông của chúng ta nói: hãy vượt qua liên tưởng tự do. Nhà phân tâm học trường phái Freud nói: hãy đi theo liên tưởng tự do. Vị thầy Phật giáo nói: hãy bỏ qua những huyễn tưởng khởi lên và để chúng trôi qua. Nhà trị liệu phân tích trường phái Jung nói: hãy tập trung vào những huyễn tưởng ấy và sau cùng hãy đối thoại với chúng.
Liệu những chỉ dẫn như vậy có cho ra những kết quả khác nhau không? Có vẻ là có. Với tín đồ của Freud, ta tìm ra gương mặt ngay sau khi chào đời, những ham muốn và nỗi kinh hoàng thời thơ ấu, thứ làm nên con người trưởng thành. Ý thức của ta phải vượt qua chúng để đi đến độ chín, để có đầy đủ năng lực yêu thương và làm việc, để biết thế giới và tâm thần đúng như nó vốn có, không ảo tưởng. Với tín đồ Phật giáo, đó là gương mặt trước khi chào đời, và là việc khám phá sự hợp nhất của mình với tự nhiên, sự nhất thể của mình với mọi sự sống. Với người theo trường phái Jung, đó là cả hai, sự liên kết với cái tập thể, với bên trong và bên ngoài, và việc khám phá Tự ngã của mỗi chúng ta. Vì vậy, người theo trường phái Jung có thể là kẻ trung gian giữa hai phía, một thứ trị liệu tâm lý nhắm đến chữa lành, yêu thương và làm việc, giải thoát khỏi ảo tưởng nhưng đồng thời cũng nhắm đến giác ngộ.
- J. Marvin Spiegelman (Trích “‘Thập mục ngưu đồ’ của Thiền tông...”)
Có lẽ sự khác biệt này là một điều khai sáng cho tất cả chúng ta, cả ở Đông lẫn Tây. Cho đến thời hiện đại, Trung Hoa và Nhật Bản quay vào bên trong, đi tìm sự hoàn thiện và sự phân hóa trong chính văn hóa và thời đại của mình, coi trọng việc thuần hóa bản tính của chính mình. Còn ở phương Tây, với những loài chim săn mồi (đại bàng) và với những vị thần cùng loài vật bị hiến tế, con người đã biến năng lượng chiếm đoạt được thành chinh phục, thành chiến thắng đối với kẻ khác và đối với thế giới, và thành việc khuất phục ngay cả tự nhiên. Thành tựu của phương Tây là tri thức về thế giới, không phải tri thức về Tự ngã. Thành công của phương Tây là cải hóa thế giới, không phải là chuyển hóa Tự ngã. Nhưng trong thời hiện đại nhất, tất cả chuyện đó, đến lượt nó, cũng đã qua rồi. Ở phương Tây có một tiếng kêu gọi chấm dứt hiến tế bò, chấm dứt truyền giáo, chấm dứt chinh phục, và quay về chuyển hóa Tự ngã. Còn ở phương Đông, truyền thống tự làm chủ đang tàn đi và đang có một sự quay sang những thành tựu bên ngoài và các “chủ nghĩa” của phương Tây. Họ thậm chí bắt đầu đánh bại phương Tây ngay trong trò chơi quyền lực của chính phương Tây. Vì vậy mà một người phương Tây mới tìm đến “Thập mục ngưu đồ” trong sự kính sợ và trân trọng. Kitô giáo có thể đã thất bại trong việc truyền giáo cho cả thế giới, nhưng khoa học lại thành công trong việc làm điều đó. Có người nói Phật giáo có thể đang suy tàn ở phương Đông, nhưng nó lại phát triển mạnh ở California và châu Âu. Cuối cùng, chúng ta học từ nhau, và có lẽ một sự tổng hợp đang được hình thành.
- J. Marvin Spiegelman (Trích “‘Thập mục ngưu đồ’ của Thiền tông...”)
Jung rất thích nhận xét rằng nếu theo lối nói phương Đông, “cái tôi” bị diệt thì ai là kẻ trải nghiệm cái linh thiêng? Ông đặt vấn đề: Ai là người thu nhận kinh nghiệm về cái linh thiêng này, nếu không phải là cái tôi? Nếu Jung đúng, ta phải trả lời thế nào trước mệnh đề khi không còn hình thức nhị nguyên nào nữa, thì không ai, kể cả kẻ nghìn mắt, tìm ra được một kẽ hở? Phải có một ý thức nào đó đang chứng kiến, một kẻ có thể thuật lại kinh nghiệm này, nếu không thì kinh nghiệm ấy dường như không hề diễn ra.
- J. Marvin Spiegelman (Trích “‘Thập mục ngưu đồ’ của Thiền tông...”)
Đến bao giờ ta mới học được rằng điều đang có mới là điều đáng kể. Đến bao giờ ta mới học được cách chấp nhận rằng ta không thể chấp nhận?
- J. Marvin Spielgelman (Trích “Lãng nhân: Một diễn giải hư cấu..”)
Kẻ đi thuần hóa phải được thuần hóa, và nếu không có tình yêu thương thì mọi sự chẳng còn ý nghĩa gì.
- J. Marvin Spielgelman (Trích “Lãng nhân: Một diễn giải hư cấu..”)
Phật giáo thường bị hiểu lầm là bi quan, phần lớn là do sự nhấn mạnh vào dukkha, một khái niệm đã được dịch thành “suffering” (khổ). Tuy nhiên, về mặt từ nguyên và theo giáo lý, duhkha nên được dịch là “dis-ease” (bất an). Giáo lý về duhkha đã đóng một vai trò thiết yếu trong việc định hình tâm thức Nhật Bản, xét theo thái độ mà người ta cần đạt đến khi đối diện tình trạng “bất an” trong đời sống. Thái độ này, bao gồm tự kỷ luật, hay nuôi dưỡng một nhân cách không chấp ngã, được gọi là “vô tâm” trong Thiền tông, “tự nhiên như nhiên” trong Tịnh Độ Chân tông và nó thấm sâu vào mọi mặt của đời sống Nhật Bản. Vì vậy, từ quan điểm Phật giáo, Phật giáo là một tôn giáo hiện thực và nhập thế, nhìn nhận con người là hoàn toàn có đủ khả năng đối diện bất an của mình và kiến tạo một đời sống có ý nghĩa hơn.
- Mokusen Miyuki (Trích “’Đời là bể khổ’”
Mọi kinh nghiệm của con người theo bản chất đều thuộc về tâm lý, nghĩa là “thực tại” trực tiếp được tri nhận và nắm bắt trong tâm thần và thông qua tâm thần của chúng ta, vì vậy kinh nghiệm giác ngộ và nội dung tư tưởng của nó hoàn toàn có thể được khảo sát từ một quan điểm tâm lý học, như hệ quả của những nỗ lực truyền đạt một kinh nghiệm vốn không thể mô tả từ góc độ lý tính hay trí tuệ.
- Mokusen Miyuki (Trích Nội dung tư tưởng về sự giác ngộ...”)
Đối với người Nhật, thực tại của cái chết và việc chết được tích hợp vào nỗ lực sống một đời có ý nghĩa. Cảm thức truyền thống của người Nhật về đời sống là xem đó như một hành trình, và mỗi chặng của hành trình ấy đều quan trọng như nhau. Vì vậy, người ta “chết đi” vào cuối mỗi chặng then chốt của cuộc đời. Trong truyền thống này, sự già đi không chỉ được nhìn như một biến đổi thể chất mà còn như sự trưởng thành về đạo đức và tâm linh.
Cái chết chỉ là một khái niệm. Việc chết, chứ không phải cái chết, mới thuộc về kinh nghiệm của người đang sống. Tuy nhiên, việc chết như một hình thái của sự sống có khác biệt căn bản với những hình thái sống khác ở chỗ cá nhân đang đối diện với thời điểm quyết định khi mình sắp biến mất khỏi cuộc đời này.
- Mokusen Miyuki (Trích “Chết trong tinh thần Isagi-yoku”)
[C]hừng nào chúng ta còn sống, sự gắn bó tự nhiên vào tồn tại thân xác của mình vẫn là điều không thể phủ nhận, ngay cả đối với người đã tu tập năng lực siêu việt sự sống và cái chết.
- Mokusen Miyuki (Trích “Chết trong tinh thần Isagi-yoku”)
Khả năng đón nhận cái chết một cách đáng khâm phục được xem là kết quả của sự nỗ lực và rèn luyện suốt đời.
- Mokusen Miyuki (Trích “Chết trong tinh thần Isagi-yoku”)
Chết trong tinh thần isagi-yoku là thái độ sẵn sàng đối diện với cái chết theo cách mà cả bản thân mình lẫn người khác đều không phải hối tiếc.
- Mokusen Miyuki (Trích “Chết trong tinh thần Isagi-yoku”)
Trái với Freud, người xem giấc mơ là sự thỏa mãn méo mó của những ham muốn bị dồn nén, cả về tính dục lẫn đạo đức, Jung lại xem giấc mơ như những phác họa tự phát về tình trạng thực tế của vô thức bằng ngôn ngữ biểu tượng; nói cách khác, giấc mơ là một biểu hiện tự nhiên của tiến trình vô thức.3 Khác với Freud, người cố diễn giải giấc mơ để chạm đến nội dung tiềm ẩn của chất liệu đã hiển lộ, Jung lại tiếp nhận bối cảnh giấc mơ đúng như nó được trình ra. Ông coi giấc mơ như một trải nghiệm không khác đời sống thường ngày là mấy. Vì vậy, ông cho rằng giấc mơ tự nó đã có ý nghĩa: nó không nên bị trói buộc vào sự phán đoán và đánh giá của ý thức vốn luôn lấy cái tôi làm trung tâm.
Vậy thì theo Jung, giấc mơ có ý nghĩa gì đối với cá nhân? Với ông, đời sống là một tiến trình luân chuyển giữa hai cực ý thức và vô thức. Vì vậy, ông nêu giả thuyết rằng giấc mơ, hoặc những chất liệu khác hiện ra từ vô thức, chẳng hạn thị kiến hay tưởng tượng, phải được hiểu, hay được đánh giá đúng, trong sự liên hệ với tình huống ý thức. Điều này có thể được hình dung rõ nhất qua biểu tượng Thái Cực đồ của Trung Hoa, như một toàn thể năng động biểu hiện sự tương tác giữa hai mặt đối lập âm-dương, trong đó âm là vô thức và dương là ý thức. Về mặt kỹ thuật, trong trường hợp phân tích giấc mơ, điều đó nghĩa là ta phải hỏi người mơ có những liên tưởng gì đối với các hình ảnh trong giấc mơ.
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)
Jung cho rằng giấc mơ có thể vận hành như một sự bù trừ đối với tình huống ý thức của người mơ. Do vậy, nếu không có những liên tưởng của chính người mơ, ta không thể đưa ra một diễn giải mang tính cá nhân. Những liên tưởng này thường mang tính tự thú, và thường rất đau đớn;...
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)
Phần hiện hữu mà ta lãng quên và xem là thấp kém so với hình ảnh ý thức về chính mình được Jung gọi là cái bóng. Tuy nhiên, nếu không chấp nhận cái bóng của mình, ta không thể là một hữu thể toàn vẹn. Bằng việc ý thức được mặt tối này, ta mở rộng và củng cố ý thức. Sự đối diện của ý thức với vô thức sẽ phát lộ những nội dung mà một khi được tích hợp, sẽ dẫn đến cái mà Jung gọi là chức năng siêu việt. Những gì hiển lộ từ đó là điều siêu việt đối với cả hai. Jung định nghĩa chức năng siêu việt là “con đường đạt đến giải thoát bằng nỗ lực của chính mình và bằng việc tìm thấy dũng khí để là chính mình”.
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)
Học Phật pháp tức là học chính mình. Học chính mình tức là quên đi chính mình. Quên đi chính mình tức là được vạn pháp chứng ngộ.
- Thiền sư Đạo Nguyên (1200–1253), người sáng lập Tào Động tông ở Nhật Bản.
Đời sống là một tiến trình đang tiếp diễn, tại đây và bây giờ. Việc đuổi theo cái “nên có” khiến ta mù lòa trước cái “đang có”. Ta cần nhận thức về giá trị của sự hiện hữu của chính mình theo nghĩa hiện hữu đơn thuần..
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)
Theo Jung, hình ảnh về người nữ trong người nam được gọi là anima. Anima thường được nhân cách hóa trong giấc mơ như một hình tượng khác giới. Ngược lại, animus là tính nam trong người nữ và cũng thường được nhân cách hóa trong giấc mơ của phụ nữ như một hình tượng nam. Nói chung, Jung cho rằng một người phải [đối diện và] làm việc cái bóng của mình trước khi có thể làm việc với anima hay animus, đơn giản vì hai nguyên mẫu sau cổ xưa hơn, theo nghĩa chúng kém phân hóa hơn cái bóng, và vì vậy chúng sẽ có vẻ rất nguy hiểm, phi lý và khó lường.
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)
Con đường của mỗi người rõ ràng là riêng tư, thuộc về từng cá nhân cụ thể, song hành động tiếp tục đi trên con đường của mình lại hết sức phổ quát. Ta không thể đi đâu cả nếu chưa biết mình đang ở đâu, ngay bây giờ và ở đây. Vì vậy, việc “đi” lệ thuộc vào việc “đang ở đây”, và việc “trở thành” là một biểu hiện của việc “là chính mình”. Hình ảnh nghịch lý “trở thành tức là hiện hữu” được hiểu như hình ảnh của điều mà Jung gọi là Tự ngã. Tự ngã có một bản tính rất nghịch lý: vừa là trung tâm vừa là đường biên của bộ máy tâm thần, đồng thời là lõi của hiện hữu.
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)
... ở tầng của Tự ngã, giấc mơ có thể vận hành như một công án Thiền tông. Ý nghĩa của một công án không bao giờ mang tính hiển ngôn, vì sự nhận thức của ta bị giới hạn bởi nhiều yếu tố cá nhân như sở thích, học vấn, nền tảng, hay khổ đau và niềm vui riêng. Hơn nữa, các công án Thiền tông mang tính cá nhân và gắn với những biến cố riêng tư trong đời sống của các hành giả Thiền tông, vào khoảnh khắc giác ngộ then chốt. Cách duy nhất để chúng có thể được “hiểu” là thông qua sự dấn thân nghiêm túc vào thực hành Thiền.
Jung dùng thuật ngữ cá nhân hóa “để chỉ tiến trình qua đó một người trở thành một ‘cá nhân’ theo nghĩa tâm lý, tức một chỉnh thể riêng biệt, không thể chia cắt, một cái toàn thể”. Qua nhiều năm kinh nghiệm và thực hành lâm sàng, Jung nhận ra tiến trình trở thành chính mình là độc nhất ở từng cá nhân, và phụ thuộc vào tình trạng tâm lý của người ấy tại mỗi thời điểm cụ thể. Tiến trình cá nhân hóa, bao hàm việc tích hợp ý thức và vô thức, đem lại cho đời sống một cảm thức về mục đích, hay ý nghĩa, mà nhờ đó cá nhân trở thành một con người độc nhất.
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)
Sự khác biệt nằm ở thái độ của một người đối với nghiệp của chính mình. Một người sống trong nghiệp nhưng vẫn không bị nghiệp trói buộc, miễn là họ đã chấp nhận nó. Ta thường nghĩ, tự do chỉ được thực chứng khi ta có thể tự mình thoát khỏi ràng buộc, thứ thường được hình dung như sự cưỡng bách từ bên ngoài. Nhưng ta phải nhận ra rằng ràng buộc cũng là tri nhận, hay cách hiểu của chính mình về thực tại.
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)
Khi bàn về ứng dụng của thiền định Phật giáo vào trị liệu tâm lý trường phái Jung, ta phải có một nền tảng chung. Nền tảng chung ấy, theo kinh nghiệm của tôi, chính là thái độ đối với đời sống. Trong thiền định Thiền tông, không có gì ở bên ngoài, kể cả giáo điều hay tín điều của Phật giáo, là bất khả xâm phạm. Trong trị liệu phân tích, vấn đề không nằm ở các lý thuyết về tâm thần con người mà là thái độ dấn thân trung thực và dám chấp nhận phần tồi tệ nhất của bản thân. Để bất kỳ sự thay đổi nào thực sự diễn ra, ta phải để cho cái tôi cũ chết đi. Để làm được điều này, tiền đề cần có là sự nhận biết và tái tích hợp phần bản thể đã bị xa lánh.
- Mokusen Miyuki (Trích “Tâm động học của thiền định Phật giáo...”)