“Thế giới hiện đại" của Thành Cát Tư Hãn: Những đường biên lịch sử
Sẽ không thể có một lịch sử, một câu chuyện quá khứ nào được kể có thể thỏa mãn được tất cả mọi cá nhân, cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Cũng không có một lịch sử nào hợp lý với mọi dự án chính trị hay thiết chế xã hội. Do đó, đối với một sử gia đích thực, sứ mệnh truy cầu sự thật tối hậu chỉ có thể đạt được khi người đó dám thách thức các khuôn mẫu truyền thống, vượt qua những định kiến được “găm” vào thời đại và xã hội để khắc họa bức tranh lịch sử đa diện, đa thanh, đa sắc, có sức cuốn hút nhất. Thành công của Jared Diamond, Fareed Zakaria, Yuval Noah Harari, John Keegan, Charles Mann - những tác giả gây nên “hiện tượng” với các tác phẩm của mình – là họ đã không buộc mình trong đường biên nhận thức duy nhất của tri thức lịch sử thông thường, điều mà giới hàn lâm vẫn hay làm.
Jack Weatherford là giáo sư nhân học xã hội, tuy không phải một sử gia, song ông đã tạo ra sức mạnh cho câu chuyện lịch sử về Thành Cát Tư Hãn cùng “thế giới hiện đại” do nhân vật này kiến tạo một cách đầy hấp dẫn, sống động và bao dung.

Cuốn sách “Thành Cát Tư Hãn và sự hình thành thế giới hiện đại” không chỉ dừng lại như bản tường thuật chi tiết cuộc đời sóng gió, thăng trầm nhưng đầy vinh quang của một trong số những nhà chinh phục vĩ đại nhất trong lịch sử, mà quan trọng hơn và đáng giá hơn, công trình của Weatherford đã gợi ra, rồi đi qua những đường biên nhận thức mới về lịch sử nhân loại thời tiền cận đại ở khu vực Đại lục Âu – Á. Thông tin cũng như cách tiếp cận lịch sử từ cuốn sách phần nào lấp đầy khoảng trống mênh mông về hiểu biết, cách tư duy và xóa đi hiểu lầm của chúng ta - những con người hiện đại - về thế giới ở thế kỉ 13 – 14.
Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ xuất hiện như thế nào trong cách nhìn nhận của nhân loại qua các thời đại?
Lịch sử nhận thức về hình tượng Thành Cát Tư Hãn, hậu duệ của ông, về người Mông Cổ, về Đế chế Mông Cổ và mọi thứ liên quan cũng phức tạp và đầy thú vị như chính cuộc đời của Thiết Mộc Chân – Thành Cát Tư Hãn. Phải mất khoảng nửa thế kỉ sau khi ông qua đời trong chiến dịch đè bẹp đồng minh Tây Hạ năm 1227, những chân dung đầu tiên của ông mới được người cháu Hãn Hốt Tất Liệt cho họa sĩ vẽ dựa trên hình mẫu của một hiền triết Trung Hoa và phải tới 700 năm sau, công cuộc nghiên cứu về ông mới bắt đầu triển khai dè dặt, chậm chạp với những phác lộ đầu tiên. Tuy vậy, trong suốt hàng trăm năm, các sắc dân khác nhau trên dải lục địa Âu – Á, từ Triều Tiên tới Armenia, nơi Thành Cát Tư Hãn từng chinh phục vẫn tạo ra những huyền thoại kì quặc, thêu dệt xung quanh yếu tố linh thiêng, bí hiểm về ông và đế chế ông thiết lập. Đa phần những mô tả cho thấy Mông Cổ tượng trưng cho tất cả sự xấu xa nhất, là ác quỷ, những kẻ mọi rợ khát máu, lấy giết chóc, hãm hiếp và phá hủy làm mục tiêu trong mọi giao tranh. Các học giả Ba Tư, Arab, châu Âu, các triết gia Phục Hưng và Khai Sáng, các lãnh đạo chính trị tôn giáo và ngay cả sách giáo khoa phổ thông cũng đều sử dụng một diễn ngôn hầu như tương đồng khi nói về người Mông Cổ cũng như cuộc chinh phục của họ. Trong khi nhiều đóng góp của người Mông Cổ bị rơi vào quên lãng, những gì thuộc về bạo tàn, tội lỗi từ chiến tranh và quá trình cai trị lại bị phóng đại. Thành Cát Tư Hãn và con cháu của ông trở thành khuôn mẫu của hủy diệt, tấm bình phong lý giải nguyên nhân thất bại của các quốc gia khác, một bức tranh đơn nhất, tường thuật một chiều và biểu tượng của những gì nằm ngoài biên giới của văn minh. Tartar, Mogul, Mongoloid… đi vào từ điển hay sách vở dưới ám thị về điều xấu xa, chịu đựng định kiến từ sự coi thường dù chúng chỉ là ngôn ngữ. Di chứng của sự miệt thị và ám ảnh quá khứ còn theo đuổi nhiều thế hệ cũng như chi phối vận động của lịch sử đại lục Âu – Á nhiều thế kỉ sau khi Đế chế Mông Cổ tan rã.
Đã có một Thành Cát Tư Hãn rất khác cách sử liệu ghi chép hay văn chương phóng tác. “Những câu chuyện xứ Canterbury” ra đời vào thế kỉ XIV bởi cha đẻ của văn học cổ điển Anh quốc là Geoffrey Chaucer đã miêu tả những thành tựu đặc sắc cũng như ca tụng chiến công của Thành Cát Tư Hãn và sự có mặt của người Mông Cổ tại châu Âu. Một vài sử gia như Ata Malik Juvaini người Ba Tư dành sự ngưỡng mộ cho Thành Cát Tư Hãn và cố gắng trung dung khi ghi chép lịch sử Trung Á, Ba Tư thế kỉ 13. Marco Polo dù huyễn hoặc vô số câu chuyện từ hành trình của mình vẫn không phủ định sạch trợn kì tích chưa từng có mà người Mông Cổ mang đến cho cư dân châu Âu trên tuyến mậu dịch – văn hóa lớn nhất trong lịch sử.
Đối với phần đông chúng ta ngày hôm nay, tri thức về Đế chế Mông Cổ vẫn quá mỏng, quá nông hoặc đã bị biến dạng, méo mó từ tác động của những thiên kiến đã thâm nhập sâu vào căn tính, hiện ra như là sự đối lập giữa hai thế giới “văn minh” và “phi văn minh/man dã”, “phương Tây hiện đại” và “Viễn Đông lạc hậu”, giữa cái “giống ta” với cái “khác ta”. Và bởi Thành Cát Tư Hãn đến từ một vùng đất xa xôi trên lưng ngựa, với vũ khí, bạo lực và tham vọng chinh phạt, quét qua mọi giới hạn có thể biết của con người thời đó, bởi ông và hậu duệ của ông đã tàn phá các thế giới văn minh hơn họ, Thành Cát Tư Hãn và Mông Cổ dần bị gạt ra ngoài lề của dòng chảy văn minh.
Giờ đây, dưới ánh sáng của sử liệu, tư duy khoa học và cái nhìn dung hợp đa dạng, Weatherford mang tới Thành Cát Tư Hãn khác, toàn vẹn như một con người có đủ tốt xấu, thiện ác, trí tuệ và bạo tàn. Đường biên cố hữu trong nhận thức về ông đã bị phá bỏ hoặc vượt qua. Quá trình cạnh tranh của các cách nhìn, cách đánh giá, các diễn ngôn về con người này đã biến thành lịch sử của chính ông.
“Thế giới hiện đại” mà Thành Cát Tư Hãn tạo ra có diện mạo ra sao?
Năm 1271, Hãn Hốt Tất Liệt xây dựng đế chế “Hán hóa” đầu tiên của người Mông Cổ với quốc hiệu Đại Nguyên. Không một vị Hãn nào công nhận vị trí Đại Hãn của Hốt Tất Liệt và vì không có được tính chính danh để cai trị toàn bộ đế chế “thế giới” này, Đế chế Mông Cổ tan rã, cuộc “thế chiến” của họ nhằm chinh phục phần còn lại của đại lục Âu – Á rơi vào quá khứ. Hãn Hốt Tất Liệt bắt đầu xây dựng Khanbaliq – Thành phố của Đại Hãn trên vùng đất ngày nay là thủ đô Bắc Kinh. Đô thị khổng lồ này được các kiến trúc sư Trung Á, Ba Tư và nghệ nhân Trung Hoa từ khắp nơi thiết kế, xây dựng ở quy mô chưa từng có. Một thành phố thế giới/Cosmopolitian hình thành tại trung tâm của vùng sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc lớn nhất Viễn Đông, cách không xa “Con đường tơ lụa” huyền thoại, nơi hội tụ của các dòng chảy thương mại toàn cầu.
Thử tưởng tượng một thành phố vào thế kỉ 13, nơi người Mông Cổ, Nữ Chân, Khất Đan, Hán, Triều Tiên, Trung Á, Ba Tư, châu Âu cùng có mặt, thị trường khổng lồ với hàng chục vạn người, nơi quy tụ đủ mọi sản vật, hàng hóa trên thế giới, từ ngũ cốc Giang Nam, bông vải Trung Á, vàng bạc Ba Tư đến thổ cẩm Tiểu Á, trái cây Ấn Độ. Ở đó, có thể bắt gặp vị Thượng thư hành tỉnh người Hồi giáo Trung Á, kị binh Mông Cổ, nghệ nhân kim hoàn Arab, Nho sĩ người Hán, phu khuân vác Cao Ly. Chưa bao giờ, tính đa nguyên của thế giới văn minh lại được dung hợp linh hoạt, hài hòa và vận hành hiệu quả đến như thế bởi một nhóm cai trị ở thượng tầng xuất phát từ dân du mục thảo nguyên. Các bộ lạc du mục, bán du mục người Semite, Kush, Sythia, Hung Nô, Đột Quyết, Uyghur, Khitan, Turk Seljuk, Kipchaks đã từng càn quét khắp miền Bắc Trung Hoa, Trung Á, Lưỡng Hà, Bắc Ấn, xây dựng nên các vương quốc, hãn quốc, thậm chí đế của mình, song chưa khi nào tạo dựng nên những thành tựu đủ lớn, đủ bền vững và có tác động sâu sắc đến vậy trong lịch sử thế giới. Thực tế lịch sử này gây nên một hoài nghi lớn với chúng ta, phải chăng một đế chế văn minh có thể kiến tạo nên từ chiến tranh chinh phục, từ bạo tàn, từ máu, từ phá hủy giết chóc, và bởi những nhóm người nằm ngoài đường biên của khái niệm “văn minh”.
Mặc dù, những nhà lãnh đạo Mông Cổ sau Thành Cát Tư Hãn thừa hiểu rằng, đế chế có được trên lưng ngựa không thể và không nên cai trị cũng từ trên lưng ngựa và để tồn tại với tính chính danh, quyền lực đôi khi không tới từ sức mạnh, nó tới từ sự thấu hiểu và ý niệm hòa nhập. Chưa đầy 70 năm sau cái chết của Thành Cát Tư Hãn, các thành phần thuộc đế chế khổng lồ mà ông đặt nền móng đã hòa vào các nền văn minh bản địa, “Hồi giáo hóa”, “Slav hóa”, “Hán hóa” thay thế chính đáng cho xu thế ngược lại “Mông Cổ hóa”. Nhưng có một quá trình không thể cưỡng lại sinh ra từ hệ quả của các chiến dịch chinh phục và bành trướng của người Mông Cổ: quá trình hình thành “thế giới hiện đại”.
Như đã phân tích ở trên, Khanbaliq hay Đại Đô chỉ là phần rất nhỏ thể hiện mô hình “thế giới hiện đại” của người Mông Cổ. Ngay từ khi còn sống, Thành Cát Tư Hãn đã chủ trương xây dựng trật tự thế giới mới, lẽ dĩ nhiên là “thế giới” với những đường biên giới hạn bởi hiểu biết của người chăn gia súc như ông. “Nền Hòa bình Mông Cổ” hay “Pax – Mongolian” tồn tại xuyên suốt một thế kỉ (khoảng 1210 đến 1300) đan xen cùng xung đột, chiến tranh, tàn sát, chia rẽ, nội chiến, song le đem lại nhiều ý nghĩa lớn lao với thế giới.
Trong biên giới “mở” của đế chế Mông Cổ thời điểm cực thịnh cuối thế kỉ 13, thương nhân được đi lại tự do, trí thức được nhà nước bảo trợ, các trường học dạy chữ Mông Cổ, Nữ Chân mở ra khắp nơi và giáo dục gia đình được coi trọng. Hãn Hốt Tất Liệt khuyến khích tham vọng đào tạo một thế hệ những “công dân” Mông Cổ biết chữ, thông thạo khoa học, ham hiểu biết và khám phá. Thành Cát Tư Hãn áp dụng Bộ luật Yassa thống nhất trên toàn cõi đế chế, bộ luật bảo vệ phụ nữ, chống lại việc mua bán phụ nữ, trẻ em làm nô lệ. Các Hãn Mông Cổ không thích máu dây ra trên đất, do đó các bộ luật phái sinh từ Yassa đều hạn chế tối đa việc tử hình. Chỉ có khoảng 2.500 người bị tử hình bằng hình thức không đổ máu trong suốt 34 năm cai trị của Hãn Hốt Tất Liệt. Trên không gian dường như không có biên giới cố định của người Mông Cổ, các đô thị hiện đại mọc lên, kết nối với nhau chặt chẽ bởi mạng lưới đường xá được tu sửa liên tục. Hệ thống “bưu điện” đầu tiên nối Kiev, Genova, Baghdad, Samakand, Đại Đô, Karakorum ở Ngoại Mông hình thành thông qua các trạm dịch và người đưa thư tín chạy ngựa. Sản vật, tin tức, tri thức dịch chuyển tự do không giới hạn khắp đế chế. Thành Cát Tư Hãn thậm chí đã tái định hình, và củng cố luồng giao thương Nội Á cũng như mở rộng mạng lưới kết nối thương mại Á – Âu thông suốt.
Khi quá trình nhất thể hóa thế giới lần đầu tiên xảy ra dưới vai trò của người Mông Cổ, các nền văn minh được kết nối, các nhóm người xa lạ bắt đầu biết tới nhau, cùng sinh sống và giao kết trong đế chế khổng lồ dường như không có giới hạn “cứng” này. Tri thức khoa học, các phát minh biến Mông Cổ thành “đế chế công nghệ” sớm hơn của Krupp thế kỉ 19, Nokia thế kỉ 20 hay Google thế kỉ 21. Mỗi thành quả phát minh là tổng hợp trí tuệ của cả tập thể các học giả, nhà khoa học từ khắp thế giới lúc đó, không khác mấy so với cách mà Tesla hay Apple làm ngày nay. Chính quyền tưởng thưởng xứng đáng cho đóng góp trí tuệ của họ. Và mỗi cuộc viễn chinh quân sự đồng thời là các sự kiện phô trương năng lực công nghệ từ kĩ thuật công thành, vũ khí thuốc súng tới sáng tạo về hệ thống cung ứng hậu cần. Một lần nữa, công trình của Weatherford cho chúng ta thấy, không có đường biên nào bó buộc và ngăn trở thành tựu văn minh dưới một “thế giới hiện đại” được tạo nên bởi người Mông Cổ.
Đó cũng là một thế giới nơi mà tự do thực hành đức tin được thừa nhận, điều chưa một nhà nước quân chủ nào làm được trong nhiều thế kỉ, thậm chí nhiều vùng thuộc thế giới ngày nay cũng bất lực. Người Mông Cổ chỉ có Shaman giáo thờ Thanh Thiên Vĩnh Hằng và tổ tiên, họ chấp nhận và dung hợp một cách kì lạ với tất cả các tôn giáo khác tồn tại khi đó. Pháp luật Mông Cổ công nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nhờ thế lần đầu tiên trong lịch sử, ở tại đế chế của Thành Cát Tư Hãn, các tăng lữ, học giả Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Mani giáo, Bái Hỏa giáo chung sống hòa bình với sứ mệnh truyền bá đức tin của họ. Thay vì gây chiến tranh tôn giáo như châu Âu, đàn áp và giết chết bất cứ kẻ dị giáo nào, Mông Cổ thực hành khoan dung tôn giáo, khuyến khích tranh luận triết thuyết chứ không phải bạo lực chỉ vì điều mình tin. Mẫu hình Mông Cổ về hài hòa tôn giáo gợi ý cho một “nền hòa bình tôn giáo”, sự chung sống và thừa nhận khác biệt mà thế giới ngày nay đang hướng đến.
Sau cùng, đánh giá một con người trong lịch sử với những hiểu biết còn mơ hồ về di sản của người đó cần phải thực hiện với lý tính chứ không phải cảm xúc hay tư biện. “Thế giới hiện đại” mà Thành Cát Tư Hãn và con cháu của ông gây dựng nên chưa phải thế giới hoàn mĩ, tốt đẹp nhất. Song, cách tiếp nhận sự khác biệt, dung dưỡng tính đa dạng, đa nguyên, đa thanh sắc dưới một quyền lực chính trị và sự nhân văn chính sách sẽ mãi là bài học cho thế giới hiện đại ngày hôm nay.
- Trần Anh Đức -