Bộ sách bản sắc Việt qua ngòi bút của nữ tác giả Việt
1. Lịch sử chữ quốc ngữ, 1615-1919
Lịch sử chữ quốc ngữ, 1615-1919 là một công trình nghiên cứu đồ sộ và có tầm vóc đặc biệt về lịch sử hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ. Dựa trên nguồn tư liệu phong phú và được khảo cứu công phu, cuốn sách mở ra một bức tranh toàn diện về hành trình ra đời của hệ chữ viết mà người Việt đang sử dụng mỗi ngày. Đây là tác phẩm mà bất cứ ai quan tâm đến văn hóa và lịch sử Việt Nam đều nên đọc, để hiểu rõ hơn về cội nguồn của chữ viết đã gắn bó với đời sống dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Có thể nói, đây là một trong những thành tựu nghiên cứu đầy đủ và hệ thống nhất từ trước đến nay về lịch sử chữ Quốc ngữ. Công trình bao quát một giai đoạn kéo dài hơn 300 năm, bắt đầu từ năm 1615 – thời điểm các giáo sĩ Dòng Tên đặt chân đến Đàng Trong để truyền giáo và kết thúc vào năm 1919, năm cuối cùng kỳ thi Hội được tổ chức tại kinh đô Huế, đánh dấu sự khép lại của nền khoa cử Nho học truyền thống và mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử chữ viết và giáo dục Việt Nam.
2. 100 câu hỏi về lịch sử chữ quốc ngữ
Lịch sử chữ quốc ngữ không chỉ là nan đề nghiên cứu của một nhóm các nhà nghiên cứu, mà còn là lịch sử gắn với tất cả người dân Việt Nam, bởi đó là chữ viết mà người Việt chúng ta dùng hằng ngày, tuy nhiên, lại ít được đề cập đến trong chương trình giáo dục ở bậc phổ thông. Với mong muốn giới thiệu lịch sử chữ quốc ngữ một cách bình dị, dễ hiểu nhất, cuốn sách “100 câu hỏi về lịch sử chữ quốc ngữ” được trình bày dưới dạng hỏi đáp nhằm kích thích trí tò mò của độc giả.
Tác giả cuốn sách bắt đầu công trình của mình với những tò mò và những câu hỏi trong hành trình đi tìm chân lý khoa học và tri thức. Với nỗ lực phổ biến công trình hàn lâm về lịch sử chữ quốc ngữ bằng cách tiếp cận dưới dạng hỏi đáp, Phạm Thị Kiều Ly đặt mình vào vị trí độc giả như cách thức của Galilée trong cuốn Đối thoại về hai hệ thống chính yếu của thế giới (1632): “Để xem nếu tôi ở vị trí của độc giả, tôi sẽ hỏi gì?”
Đó có thể là câu hỏi của một người Việt trước cổng Văn miếu Quốc Tử Giám: “Vì sao trước đây người Việt lại dùng chữ Hán, chữ Nôm, mà giờ đây chúng ta lại dùng chữ viết hệ La-tinh?” Đó có thể là câu hỏi của các nhà nghiên cứu về mối liên hệ giữa chữ viết và văn hiến. Và cũng có thể là câu hỏi của một em học sinh dành cho thầy cô hoặc cha mẹ: Vì sao ta lại viết cái ca, kinh kệ trong khi âm đầu cùng là âm /k/?…
3. Du khảo: Rực rỡ sắc màu trang phục phụ nữ các dân tộc Việt Nam
10.000 km, 99 ngày, và vô vàn những câu chuyện được kể qua từng họa tiết, sắc màu trên trang phục – đó là hành trình của cựu nhà báo, đạo diễn Nguyễn Bông Mai đã đi để viết nên “Du khảo: Rực rỡ sắc màu trang phục phụ nữ các dân tộc Việt Nam”.
Nhà báo, đạo diễn Bông Mai, cựu ca sĩ nhóm nhạc Con gái, đã thực hiện hành trình 99 ngày xuyên Việt một mình qua các vùng Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long…trong hành trình dài hơn 10.000 km, qua 44 tỉnh thành phố, 80 thôn bản và check - in 4 cực của Việt Nam, chinh phục tất cả các cung đường, kể cả những cung đường đèo được cho là rất khó với các phượt thủ.
Chuyến đi này, ngoài việc truyền cảm hứng cho mọi người, đặc biệt là những người phụ nữ dám sống một cuộc đời rực rỡ, còn với mục đích là khám phá, tìm hiểu về văn hóa, phong tục và cuộc sống của 54 đồng bào dân tộc trên mọi miền đất nước. Chị đã có cơ hội gặp gỡ người dân 35 dân tộc, chụp và ghi hình 55 bộ trang phục, thu được 49 làn điệu dân ca. Chuyến đi không chỉ là cơ hội để chị trải nghiệm cảnh đẹp mà còn gặp gỡ nhiều con người mới, đến với những sắc màu văn hóa mới. Lần đầu chị được gặp bà con các dân tộc mà trước đây chỉ có cơ hội nhìn thấy trên báo, trên mạng internet.
4. Việt Nam lịch sử không biên giới
Việt Nam: Lịch sử không biên giới” là một cuộc đối thoại học thuật quy mô quốc tế về Việt Nam giữa những nhà sử học ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Hoa Kỳ. Cuốn sách quy tụ các bài tham luận của các nhà Việt Nam học lừng danh trên thế giới tại hội thảo “Việt Nam: bên ngoài những đường biên” tháng 5/2001, mở ra những tri thức sâu và mới mẻ về sự tương tác giữa bản sắc Việt Nam - Chăm - Khmer - Pháp,... trên bán đảo Đông Dương trong hơn 1000 năm.
Hiếm có nền sử học nào lại mang dấu ấn dân tộc đậm nét như sử học về Việt Nam trong thế kỷ XX. Gia nhập trận chiến cam go vì sinh tồn và bản sắc dân tộc suốt phần lớn thế kỷ này, các nhà sử học Việt Nam và những ai có thiện cảm với họ trên thế giới đã dồn sức tập trung vào dòng trần thuật vĩ mô về cuộc đấu tranh dân tộc chống lại Trung Hoa, Pháp và Mỹ. Chỉ đến thời gian gần đây, một thế hệ mới các nhà sử học mới có thể bắt đầu đi sâu khám phá những lớp văn hóa và chính trị trong mối quan hệ giữa nhiều dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương, mà không còn bị ràng buộc bởi yêu cầu phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ bản sắc. “Việt Nam: Lịch sử không biên giới” chính là một dấu mốc quan trọng của thế hệ đó.
Việc cuốn sách này vượt qua các ranh giới còn có một ý nghĩa nữa. Một thế hệ trước đây, giới sử học phương Tây viết về Việt Nam với tư thế hoàn toàn tách rời khỏi sử học Việt Nam, cho dù là có thiện cảm với nó, cũng như xa lánh sử học thực dân Pháp. Những gì công bố ở Trung Quốc và Nhật Bản gần như không được các học giả phương Tây biết đến. Cuốn sách này tiêu biểu cho cuộc đối thoại đang tiếp diễn giữa các nhà sử học được đào tạo, hoặc được đào tạo một phần ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc cũng như Hoa Kỳ.
5. Trường Pháp ở Việt Nam 1945-1975
Cuốn sách này, bắt nguồn từ luận án tiến sỹ của tác giả, đã hoàn thành vai trò của mình là làm sống lại thiên truyện về nền giáo dục Pháp tại Việt Nam trong ba thập niên bản lề của lịch sử đất nước này trong thế kỷ 20 (1945-1975).
Mục đích của cuốn sách này là miêu tả và phân tích hệ thống giáo dục Pháp tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam sau 1945 ở những bình diện chính sách, tổ chức và cách thức vận hành. Ba chương trong sách sẽ chỉ ra, dưới sức nặng của những toan tính chính trị quốc tế cũng như áp lực từ phía các gia đình Việt đến trường Pháp, nước Pháp đã cải tổ một cách tài tình như thế nào để biến hệ thống giáo dục thuộc địa kiên cố, vốn được coi là mũi giáo của sứ mạng khai hóa, thành một công cụ phục vụ cho ngoại giao văn hóa. Đây là một thứ ngoại giao mới mà các chính thể Nhà nước muốn sử dụng, cho mục đích đối ngoại, nhằm truyền bá những sản phẩm mang tính biểu tượng của một nền văn hóa như nghệ thuật, văn chương, hay truyền bá tri thức thông qua giáo dục.
Cuốn sách giới thiệu cô đọng những đặc điểm căn bản của giáo dục Đông Dương thuộc địa, giúp độc giả khám phá tiến trình ít nhiều bị cưỡng ép để biến “sứ mạng khai hóa” thành một thứ “Phái bộ văn hóa” thích ứng linh động hơn với điều kiện chính trị và chiến cuộc từ 1945 đến 1954. Đồng thời phân tích sự phát triển của hệ thống trường Pháp tại miền Nam từ 1954 đến 1975 trong bộ “áo choàng ngoại giao” mới dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa có sự hậu thuẫn của Mỹ.
6. Đường tới Quốc hội của nữ nghị sĩ Pháp gốc Việt đầu tiên
“Đường tới Quốc hội của nữ Nghị sĩ Pháp gốc Việt đầu tiên” – Cuốn sách viết về cuộc đời của nữ nghị sĩ Pháp gốc Việt đầu tiên, được Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron viết lời giới thiệu. (Bản tiếng Việt được in trước cả bản tiếng Pháp). Chính trị là một lĩnh vực chúng ta phải đi lên dần dần, từ cấp độ địa phương lên cấp độ quốc gia, thông qua những bậc tiếp nối nhau. Hành trình chói sáng mà Nghị sĩ Stéphanie Do đã vươn tới và đạt được ở một vị trí ở tầm vóc quốc gia, sẽ là một nguồn cảm hứng vô cùng lớn dành cho những ai muốn bước chân vào con đường chính trị.
“Sinh ra ở Việt Nam, tới Pháp năm mười một tuổi dù không biết tiếng Pháp, vài năm sau Stéphanie Do đã trở thành nghị sĩ Quốc hội của 68 triệu công dân.
Cô đã đạt tới vị trí này nhờ lòng ngoan cường, ham muốn thành công và cống hiến vì người khác. Không gì có thể làm suy suyển quyết tâm của cô, một quyết tâm giúp cô đánh bại mọi dự đoán. Kể cả nỗi đau buồn khi rời bỏ quê hương đến định cư ở Pháp, vạ vật từ trại tị nạn này qua trại tiếp nhận khác cùng gia đình. Kể cả những khó khăn về vật chất mà cô phải đối diện, cùng ba người anh trai, mẹ là một người kinh doanh buôn bán và cha là một giáo sư toán có bằng cấp ở Việt Nam nhưng không được công nhận ở Pháp. Cha mẹ cô đã phải bỏ lại tất cả ở Việt Nam để tiếp tục hành trình tìm kiếm tương lai xán lạn hơn cho con cái mình. Stéphanie Do đã chứng tỏ bản thân xứng đáng với sự kỳ vọng này. Cô đã nắm bắt mọi cơ hội mà nước Pháp mang đến cho mình và đã đền đáp cho nước Pháp gấp trăm lần.”
(Trích Lời giới thiệu của Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron)