Chìa khóa để hiểu sự trỗi dậy và suy tàn của các đế chế
Ngôn ngữ làm nên con người, và chính ngôn ngữ khiến chúng ta trở nên siêu phàm.
Không thể hình dung được suy nghĩ của con người nếu không có năng lực ngôn ngữ, nhưng một ngôn ngữ thuần khiết đồng nhất toàn cầu chỉ là ý nghĩ kỳ quặc của các triết gia. Ngôn ngữ trong thực tế xuất hiện dưới dạng nhiều thứ tiếng của nhiều địa phương khác nhau như tiếng Anh, tiếng Navajo, tiếng Hán, tiếng Swahili, Burushaski cùng hàng nghìn thứ tiếng khác, và mỗi thứ tiếng này lại liên kết những người nói của nó với một truyền thống đã tồn tại ngàn năm. Khi được con người tiếp nhận, nó sẽ mang lại khả năng tiếp cận với một kho tàng niềm tin và kiến thức khổng lồ: những tài sản này trao sức mạnh cho chúng ta mỗi lúc tư duy, nghe, nói, đọc, viết, nhờ đó chúng ta mới có thể có suy nghĩ và cảm nhận khác xa tổ tiên mình. Ngôn ngữ của chúng ta đặt chúng ta vào một chuỗi liên tục về văn hóa, liên kết chúng ta với quá khứ và cũng thể hiện ý muốn của chúng ta với những thế hệ sau này.
Đây là cuốn sách cơ bản, nói về lịch sử của các truyền thống ấy. So với những ông hoàng, các thành bang hay các nền kinh tế, chính các cộng đồng ngôn ngữ, những người đóng vai trò thực sự trong lịch sử thế giới, mới tồn tại lâu dài qua nhiều thời đại, mang theo những ngôn ngữ được người nói, một cách tường minh và chủ động, coi là biểu tượng của bản sắc, nhưng vẫn cứ dần thay đổi, và có lẽ là chia tách hay thậm chí là hợp nhất lại mỗi khi cộng đồng đối mặt, phản ứng với tình hình thực tế mới. Sự giao thoa này giữa các ngôn ngữ là một khía cạnh của lịch sử vốn dĩ quá lâu không có ai ngó tới.

Là biểu ngữ và biểu tượng của các nhóm người, ngôn ngữ cũng bảo vệ ký ức của chúng ta. Ngay cả khi không có chữ viết, ngôn ngữ vẫn là thứ công cụ quyền năng nhất mà chúng ta có để bảo tồn vốn tri thức trong quá khứ của mình và đôi khi có thể truyền tải nó cho các thế hệ mai sau. Bất kỳ ngôn ngữ nào của con người cũng đều liên kết với một cộng đồng nào đó bằng cách tạo cho nó một mạng lưới giao tiếp, và cũng “kịch hóa” cộng đồng đó bằng cách tạo ra các phương tiện để kể và ghi nhớ những câu chuyện.
Ngay cả cuốn sách tương đối dày dặn này cũng không tài nào kể hết được những câu chuyện như vậy. Các đế chế ngôn từ chỉ tập trung vào các ngôn ngữ, vì lý do này hay lý do khác, phát triển từ quê nhà rồi lan rộng ra khắp thế giới. Nhưng ngay cả khi đặt ra một hạn chế ban đầu chặt chẽ như vậy và cắt giảm số lượng truyện kể về ngôn ngữ từ hàng nghìn xuống còn hàng chục, thì tính đa dạng vẫn thống trị cuốn sách. Theo một cách nào đó, có rất nhiều câu chuyện trong sách cho thấy rằng đây là một cuốn Nghìn lẻ một đêm về ngôn ngữ chứ không chỉ kể ra một câu chuyện đơn lẻ.
Chúng ta sẽ bàn về những sự đổi mới đáng ngạc nhiên trong giáo dục, văn hóa và ngoại giao, từ khi được thai nghén bởi những người nói tiếng Sumer và những người kế thừa ở Trung Đông, cho đến cộng đồng Ả-rập ngày nay;sự kiên cường kỳ lạ của người Trung Quốc qua 20 thế kỷ bị xâm lược; sự phát triển đầy mê hoặc của tiếng Phạn từ bắc Ấn Độ đến Java và Nhật Bản; tính vị kỷ duyên dáng của tiếng Hy Lạp; những cuộc đấu tranh đã khai sinh các ngôn ngữ của châu Âu hiện đại; và sau đó là những chi tiết khó tin về cách chúng được phóng chiếu trên khắp thế giới.
Bên cạnh những thành tựu có tính sử thi này, ngôn ngữ cũng có những thất bại không hề nhỏ. Đế chế Tây La Mã đã bị những người nói tiếng Đức đánh đổ hoàn toàn vào thế kỷ thứ năm. Những cuộc chinh phục này đã đặt nền móng cho các quốc gia Tây Âu hiện đại: vậy tại sao tiếng Đức lại bị bỏ lại phía sau? Ở châu Phi, tiếng Ai Cập đã sống sót sau sự tiếp quản của nước ngoài trong hơn ba thiên niên kỷ: tại sao nó lại mai một và biến mất sau làn sóng tiếng Ả-rập của Muḥammad? Và trong kỷ nguyên hiện đại, Hà Lan đã cai trị Đông Ấn trong cùng thời kỳ Anh cai trị Ấn Độ: vậy tại sao tiếng Hà Lan lại không được biết đến ở Indonesia hiện đại? Cho đến khi những câu hỏi như vậy được trả lời, ta không bao giờ có thể hiểu được sự phổ biến toàn cầu của tiếng Anh.
Ở cấp độ văn hóa, cũng có sự mê hoặc trong các thế giới quan đi kèm các ngôn ngữ phát triển và suy thoái. Có rất nhiều điều trớ trêu: Đối với những người thời lưu ở miền đông Địa Trung Hải, những người nói tiếng Hy Lạp và tiếng Aram, thì tiếng Latin không có chỗ đứng, nhưng rất nhanh chóng nó lại được những người mù chữ ở Gaul và Tây Ban Nha chấp nhận. Ở châu Mỹ, các nhà truyền giáo Công giáo đã làm giảm tốc việc truyền bá tiếng Tây Ban Nha suốt nhiều thế kỷ, nhưng ở châu Á, những người Tin lành lại thúc đẩy việc tiếp nhận tiếng Anh và cho rằng điều này là quan trọng. Ngay từ đầu, chúng ta cũng có thể thừa nhận rằng những bí ẩn của tính hấp dẫn và tính ảnh hưởng về mặt ngôn ngữ là rất sâu sắc: kể được câu chuyện không phải lúc nào cũng là hiểu nó.
Tuy nhiên, tôi tin rằng nghiên cứu phổ quát về lịch sử ngôn ngữ, mà cuốn sách này là một trong những nỗ lực đầu tiên, ít nhất cũng là một trọng tâm khoa học có cơ sở vững chắc không kém những mối quan tâm thông thường của ngôn ngữ học lịch sử. Việc so sánh các hiệu ứng ngôn ngữ trong cuộc chinh phục Gaul của người La Mã và người German cũng quan trọng như việc so sánh cấu trúc của hệ thống động từ trong tiếng Latin và ngôn ngữ German – thực ra, sự so sánh này có thể làm sáng tỏ sự so sánh kia. Các ngôn ngữ vốn dĩ đã xác định đặc điểm của các cộng đồng, và do đó cung cấp các đơn vị rõ ràng hơn so với hầu hết các nghiên cứu xã hội để làm cơ sở cho các phân tích so sánh. Người ta chưa thực sự chú ý đến sự tăng trưởng, phát triển và sụp đổ của các cộng đồng ngôn ngữ theo thời gian, và những gì mà các quá trình này có thể làm sáng tỏ về những kiểu xã hội nói các ngôn ngữ ấy. Chẳng hạn,có một sự thật đã được thừa nhận rằng trong Đế chế La Mã, phía Tây do người Latin cai trị, phía Đông thuộc về người Hy Lạp, và chính quyền Hy Lạp tồn tại nhiều thế kỷ hơn chính quyền Latin: thật đáng kính ngạc, và sau đó cũng thật tường tỏ, rằng khi các hệ thống phòng thủ sắp tới lúc sụp đổ và các lãnh thổ của Đế chế này bị tàn phá thì tiếng Latin vẫn tồn tại – và chưa bao giờ bị thay thế – còn tiếng Hy Lạp phần lớn đã biến mất trong một vài thế hệ.
Lịch sử ngôn ngữ của thế giới có thể mô tả hùng hồn về đặc điểm thực của các dân tộc, những chuyển động và thay đổi trong quá khứ, đồng thời đưa ra nhiều gợi ý sâu rộng cho tương lai. Năm 1898, khi được hỏi về việc lựa chọn chỉ một sự kiện định hình lịch sử hiện đại, Thủ tướng Đức Bismarck đã trả lời: “Bắc Mỹ nói tiếng Anh.” Ông đã đúng, như thế kỷ 20 đã cho thấy. Hai lần các cường quốc lớn ở Bắc Mỹ can thiệp nhằm định đoạt kết quả của các cuộc đấu tranh bắt đầu ở châu Âu, lần nào kết quả cũng đều thuộc về các lực lượng nói tiếng Anh. Thậm chí, các cuộc cách mạng công nghệ ở thế kỷ 20 về truyền thông, điện thoại, phim ảnh, quyền sở hữu xe hơi, truyền hình, máy tính và Internet đều được nước Mỹ (nói tiếng Anh) dẫn dắt áp đảo. Nước này đã phóng chiếu ngôn ngữ của mình ra khắp thế giới, đến cả những lãnh thổ còn chưa chịu sự ảnh hưởng của Đế quốc Anh. Có vẻ như một cuộc cách mạng ngôn ngữ quốc tế đang tiếp diễn, được phát sinh bởi các phương tiện truyền thông mới.
Tuy vậy, trong khi một ngôn ngữ có thể rất phổ biến và sự phổ biến ấy hiếm khicó thể bị đảo ngược, thì không phải lúc nào nó cũng an toàn. Ngay cả một ngôn ngữ có địa bàn rộng lớn như tiếng Anh trong thế kỷ 21 cũng không thể miễn nhiễm. Nó vẫn bị đe dọa bởi những nguyên nhân cũ của sự kế thừa ngôn ngữ: những thay đổi về sự tăng trưởng dân số, mô hình thương mại và uy tín văn hóa. Với mức độ thông thạo tiếng Anh hiện giờ, không có gì đảm bảo tính ưu việt lâu dài trong xuất bản, phát sóng hay không gian World Wide Web. Giống như một khu rừng, công nghệ là không thiên vị.
Lịch sử ngôn ngữ tự thân không giải thích quá khứ hay dự đoán tương lai. Có hàng ngàn truyền thống ngôn ngữ và quy mô tương đối của chúng đang thay đổi linh hoạt. Những đổi mới quan trọng có thể nảy sinh ở bất kỳ truyền thống nào trong số ấy; đặc biệt trong các điều kiện hiện đại, những đổi mới có thể lan truyền nhanh chóng. Uy thế và sự thống trị của các ngôn ngữ như tiếng Ai Cập, tiếng Akkad, tiếng Phạn, tiếng Ba Tư, tiếng Hy Lạp và tiếng Latin ở thời hoàng kim dường như đều là không thể kháng cự, nhưng khi chúng bị soán ngôi thì số lượng người nói giảm đi trông thấy.
Tương lai ngôn ngữ, cũng giống như quá khứ ngôn ngữ, được sắp đặt để chứa đầy những điều bất ngờ. Nhưng để tìm hiểu tổng thể những gì đã xảy ra trong lịch sử cùng kẻ thắng người thua thực sự giữa các nhóm người, chúng ta không thể bỏ qua kết quả của các cuộc đấu tranh ngôn ngữ.
Little Solsbury Hill, 28 tháng 7 năm 2004