"Nội các Trần Trọng Kim" - lăng kính đa chiều về một lực lượng của chế độ cũ
Omega Plus Books
Thứ Sáu,
29/08/2025
7 phút đọc
Nội dung bài viết
Gần trưa chủ nhật tuần vừa rồi, bé con nhà tôi nhởn nhơ chơi xung quanh nhà trong khi “thằng bố nó” đang hì hịu lau nhà, bỗng nó la ầm lên:
“Bố, bố, ra đây mà xem, dưới ông trời có cái gì tròn tròn hay lắm…”
“À ông trăng đấy” – “Ơ, con tưởng ông trăng ban ngày đi ngủ.”
“À bình thường thì đúng như thế, nhưng đôi khi ông trăng vẫn tăng ca… như bố í mà.”
“Sao nhìn ông trăng nay lạ quá.”
“Đúng rồi, có ông mặt trời chiếu sáng nên con sẽ khó nhìn ông trăng, kiểu như bố con mình đi đường bị người ta chiếu vào mắt chói không nhìn thấy gì ấy..”
Bé con sau một thoáng hồ hởi, nó lại chạy đi tìm Jerry, trong khi con mèo đang cuống cuồng tìm nước thoát thân.
Khi đứng cạnh một luồng sáng, sự vật đó dường như tối đi, bởi điều người ta vui mừng là ánh sáng, ánh sáng của niềm tin, của hi vọng về một vận mệnh tươi đẹp hơn về một Việt Nam độc lập dân tộc, chúng ta đôi khi bỏ lỡ khoảnh khắc những đôi chân lê bước trên đôi giày tây, bộ áo the và chiếc mũ chuồn đang khẽ khàng đóng lại một cánh cửa…
Cái liếc nhìn ra phía trước, vừa chua xót, vừa tự hào của một vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam, khi cánh cửa đầy tăm tối của nạn đói, nạn mù chữ, nạn bất công khẽ đóng lại. Liệu Bảo Đại và bộ máy triều đình cuối cùng đó sẽ được lịch sử và người dân đánh giá như thế nào điều đó phụ thuộc nhiều vào các tư liệu lịch sử, cách đánh giá luận “công-tội” của các nhà nghiên cứu.
80 năm qua đi, thời điểm khai sinh ra đất nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, cũng là hồi chuông kết thúc triều đại nhà Nguyễn, khi mà dân tộc chúng ta vừa phải trải qua nạn đói khủng khiếp, khi cảnh của phong kiến đang dần khép lại.
Bảo Đại và Trần Trọng Kim, hai nhân vật chủ chốt này chưa bao giờ được xem là phương án A trong kế hoạch của Nhật khi hất văng Pháp ra khỏi Việt Nam – ít nhất là trong mắt các học giả đương thời, bởi trong tay Nhật lúc này có hai con bài tốt hơn, đó là Cường Đế (mối quan hệ của Cường Đế và nhà vua Bảo Đại thì khá giống với quan hệ giữa Trần Hưng Đạo và vua Trần Thái Tông, kiểu như hậu duệ dòng trưởng và dòng thứ) và nhân vật mẫn cán thân Nhật như Ngô Đình Diệm, thế nhưng Nhật đã quyết định sử dụng hai con bài tẩy này, bởi WW2 đã chuẩn bị đến nước cờ tàn, mục tiêu cả Nhật và Pháp đều là vắt kiệt người dân thuộc địa để phục vụ chiến tranh và bơm cho những cái hố sâu không đáy ở nước nhà, thế nên cách hợp lý hơn là nên sử dụng những nhân vật không quá nhiệt tình về chính trị để dễ bề sai bảo..
Than ôi,
Một cổ mà những ba gông
Gông thì đế quốc, gông thì thực dân
Lại thêm phong kiến “giả trân”
Xư.ơng người trắng xóa, khắp phần Đông Dương.
Qua từng trang sách, bạn sẽ thấy mưu mô của Nhật sẽ bộc lộ dần, bằng việc sử dụng các “kẻ tay ngang” – như Trần Trọng Kim hoặc Trần Đình Nam, Trịnh Đình Thảo, những người mà “trác tuyệt” về chuyên môn, có uy tín trong học giả nhưng lại kém cỏi về chính trị và mù mờ về đường lối, họ đâu thể ngờ rằng, những người mà họ chọn, những hành động mà họ đôn đáo làm tưởng như tường minh, nhưng tất cả đều không qua mắt được người Nhật, chỉ bởi vì chiếc thuyền chính quyền mà họ đang đứng lại là chính chiếc thuyền mà người Nhật đóng, Đế quốc Nhật không cần mất tay cho việc tạo một hệ thống bóc lột mới, chúng “tận dụng” luôn bộ sậu cũ, đưa Bảo Đại lên làm vua để đảm bảo tính “chính danh” đồng thời củng cố thêm luận điệu “Một Đông Á đại đồng”.
Mồm mép giảo hoạt đến đâu, nhưng xâm lược vẫn là xâm lược, bóc lột vẫn là bóc lột, để mà luận công hay tội trong 4 tháng hoạt động của nội các Trần Trọng Kim thì e ít nhiều vẫn còn mang cảm tính.
Trước là các công trình nghiên cứu lịch sử của cụ Hòe, cụ… Biết làm sao, khi trong giai đoạn cao trào cách mạng, sự sục sôi khát vọng độc lập, thì những kẻ đi ngược lại ý chí dân tộc thì đôi khi vẫn phải mang hàm oan.
Một hàm oan như chính trong hồi ký của cụ Kim sau này “Một cơn gió bụi”, một cơn gió chẳng thể làm lay chuyển một nhành cây, chứ đừng nói đến việc cản trở bước chân đoàn quân, nhưng nó cũng làm chút cay xè nơi khóe mắt, đúng là dù chỉ hoạt động trong thời gian rất ngắn, và một triều đình “chắp vá” – lơ thơ vài vì quan lại trước sân triều, quân đội vẻn vẹn trăm tên lính khố xanh, ngân khố cạn khô rồi lại phải đi lạy lục các cá nhân ra làm quan.
Một cơ thể già nua đang trút những hơi thở cuối cùng trước giờ phút lâm chung.
Vân biết rằng, vẫn biết rằng, cả tập thể đó cũng có công khi đàm phán lấy lại các phần Nam Kỳ, vẫn biết rằng, que diêm sắp lụi đó cũng kịp đốt cháy lên hào khí dân tộc trong tầng lớp nhân dân, vua quan chế độ cũ vẫn mang trong mình dòng máu Việt, vẫn mang cốt cách trí thức khi không bán rẻ nhân cách làm Việt gian, cách họ làm tròn vai khi khỏa lấp khoảng trống lịch sử trong việc đàm phán với “mẫu quốc” (bởi thời điểm đó chúng ta chưa có chính phủ lâm thời) đồng thời cái cách họ bàn giao “ấn kiếm” của mình cho Việt Minh trong hòa bình và im lặng.
“Trẫm thà làm dân một nước độc lập còn hơn là vua một nước nô lệ..”
Thế nhưng nói đi cũng phải nói lại, mặc dù dưới thân phận bù nhìn, họ lại chống mắt đứng nhìn trước thảm cảnh của nhân dân, khi phải “bỏ lúa trồng đay”, khi thiên tai hoành hành, khi phải bán sinh mạng đi để phục vụ lũ xâm lược, cái cách mà nội các Trần Trọng Kim loay hoay cứu con dân trong vô vọng, trong sự rón rén với sự khó chịu của người Nhật, sự bất tuân của quan lại cũ, trong tiếng vang thấu trời của “nạn đói năm 1945” là đỉnh cao cho sự bù nhìn của nội các này.
Trần Trọng Kim và những người dưới trướng, rất sợ bị đánh giá về sự vô dụng, bất tài, hèn kém, nhưng ở vào tình thế của ông, ngay từ khi bị Nhật “ép” vào hệ thống của Bảo Đại, ông đã chấp nhận ở vào cái thế mà “lực bất tòng tâm” với không gian hẹp, thời gian hẹp, những gì ông đã làm được và chưa làm được xin để lại cho hậu thế soi xét..
"Nội các Trần Trọng Kim" là một cuốn sách hay, không có ý xét lại lịch sử mà giống như một lăng kính đa chiều khách quan hơn về một lực lượng cuối cùng của chế độ cũ, dù suy nghĩ thủ cựu. Nhưng họ vẫn mang một dòng máu Việt, nếu lịch sử Việt Nam là một dòng sông thì họ nhất quyết không phải con đê chắn, mà họ chỉ là một cột mốc, lẻ loi..
Những dấu vết cuối cùng của khăn xếp, của nghiên mực, khi mà chúng ta bước sang một trang mới, một tương lại mà người dân quyết định vận mệnh dân tộc.
- Trường Thắng -