Vì sao người Mông Cổ không phát triển thủy quân?
Tuy là nỗi ám ảnh trên đất liền của nhiều vùng đất và nền văn hóa vào thế kỷ 13, nhưng Mông Cổ lại không phát triển về mặt thủy quân. Tại sao lại thế? “Hoàng đế của biển cả” sẽ phần nào trả lời điều đó.
Theo tác giả Jack Weatherford, điều này có nhiều phần bắt nguồn từ tín ngưỡng và văn hóa của họ. Cụ thể, theo niềm tin của người Mông Cổ, những vị thủy thần quyền năng có thể khiến cho ngựa của họ sợ hãi, lay động cây cối mà không cần gió, biến mưa đá thành lửa, nuốt chửng Mặt Trăng tròn đầy và khiến cho đêm có mùi như da thuộc cháy, đánh dấu một con đường trên đá hoa cương và để lại dấu chân trên mặt nước. Những vị thần này cũng có thể lẳng lặng ăn thịt người mà không để họ cất tiếng kêu la và rồi biến mất xuống dưới sâu chỉ để lại chút hơi sương... Đó là lý do mà sắc dân này tránh xa nguồn nước nhất có thể. Thậm chí Oa Khoát Đài – Đại hãn kế nhiệm cha ruột Đà Lôi của Hốt Tất Liệt – cũng được cho là bị các thủy thần trừng phạt dẫn đến á khẩu dù cho thực tế ông phải trải qua một cơn đột quỵ như y học sau này tiết lộ.

Bên cạnh điều đó, người Mông Cổ cũng đã từ lâu quen với địa hình không có sông lớn. Cụ thể, nếu so với Hoàng Hà vĩ đại ở Trung Hoa thì những con sông dễ vượt qua của Mông Cổ dường như chỉ hơn những dòng suối nông thôn một chút. Thậm chí trên cao nguyên Mông Cổ tương đối khô cằn ở tít phía bắc, ở độ cao hơn 1.500 mét, những con sông nhỏ còn có ích đặc biệt, khi trở thành những con đường khi mặt nước đóng băng vào mùa đông. Bên cạnh đó, sông cũng hỗ trợ cho các chiến binh Mông Cổ trong hành trình vượt hoang mạc Gobi... Vì vậy với quân Mông Cổ, băng tuyết và các con sông mùa đông chính là vũ khí, giống như những cây cung và mũi tên lợi hại của họ. Nhưng rồi điều này sẽ không còn đúng khi họ chạm trán những con sông lớn cũng như biển cả.
Điều ấy còn bắt nguồn từ lối sống của họ. Người Mông Cổ đã biết đến tàu thuyền và từng thấy cách chúng được vận hành, nhưng một con thuyền không phải lựa chọn khả dĩ cho một người không muốn cưỡi cái gì khác ngoài ngựa cũng như lạc đà. Một người lính không chỉ mang theo con ngựa anh ta đang cưỡi mà là cả năm con ngựa để cưỡi thay phiên, vì đó là số ngựa mà mỗi người lính phải có. Thêm vào đó, người Mông Cổ khi di chuyển thường đem theo bên mình những đàn gia súc, cừu và dê, cũng như những ger được bọc bằng nỉ - đó là những căn lều mà người Mông Cổ gọi là nhà. Là những người du mục đích thực, họ mang theo cả đời sống vật chất ra chiến trường hoặc đến bất cứ nơi nào họ đặt chân đến và sẽ không bỏ lại nguồn sống của mình. Trong mắt người Mông Cổ, vượt qua một con sông là vấn đề phức tạp mà không thể chỉ gói gọn trong một con thuyền nhỏ nhoi.
Bên cạnh đó, đàn ông cũng có đầy định kiến với việc ngồi trên một con thuyền gỗ. Điều này bắt nguồn từ việc họ chỉ xem những con thuyền gỗ như những cỗ xe đi trên mặt nước. Theo phong tục, tất cả các cỗ xe đều thuộc về phụ nữ, họ cũng là chủ nhân của ger. Người Mông Cổ kéo những nhà lều bằng vải nỉ từ nơi này sang nơi khác trên những cỗ xe bò kéo, và một người phụ nữ có thể sở hữu nhiều ger cũng như xe kéo. Thậm chí các nhà quan sát đã trông thấy một người phụ nữ dẫn đầu một đoàn xe lên tới 30 chiếc nối thành hàng dài, được kéo bởi nhiều con bò. Trong những năm đầu của Đế quốc Mông Cổ, những nhà lều cung điện lớn được vận chuyển trên các mặt sàn lăn do cả một đội bò kéo. Vì kích thước rất lớn, các căn lều này được những người đàn ông có thể là người hầu của hoàng hậu di chuyển, trong khi hoàng hậu và đoàn tùy tùng của bà ngồi trong cung điện di động. Nhưng không có người đàn ông nào ngồi trên nền cung điện di động hoặc trong các cỗ xe của bà. Do đó nếu một người đàn ông phải dẫn cỗ xe, anh ta sẽ cưỡi trên lưng một trong những con ngựa của mình, mang theo một sợi dây thừng hoặc dây da buộc vào con bò. Anh ta sẽ đi bộ bên cạnh (nếu cần) thay vì lên xe. Một chiến binh thực sự không bao giờ ngồi trên xe trừ phi bị thương nặng, và ngay cả trong trường hợp đó, anh ta cũng thích được nằm vắt trên lưng ngựa hơn. Trong mắt đàn ông Mông Cổ, một chiếc thuyền chẳng qua chỉ là một cỗ xe nổi dành cho phụ nữ.
Đó chính là những lý do giải thích cho việc vì sao “Hoàng đế của biển cả” là danh xưng vô cùng cao quý được trao cho Hốt Tất Liệt. Sở dĩ nói thế là bởi khi Hốt Tất Liệt lên nắm quyền lực thì dưới sự lãnh đạo của ông nội là Thành Cát Tư Hãn, người Mông Cổ đã tạo dựng cho mình đế quốc rộng lớn nhất lịch sử, nhưng toàn bộ là trên đất liền. Hốt Tất Liệt có thể nói chính là người Mông Cổ mà không ai ngờ đã chuyển hướng cuộc chinh phục này và các đạo quân của họ ra biển. Weatherford nói thêm: “Trước đây, người Mông Cổ đã sử dụng danh hiệu Hoàng đế của biển cả theo nghĩa biểu tượng, tâm linh, chỉ vị chúa tể của toàn bộ vũ trụ, nhưng Hốt Tất Liệt đã biến nó thành một thực tế cụ thể cho bản thân, triều đại Mông Cổ của ông, và cho Trung Hoa”.
Thành tựu của ông là vô cùng lớn, khi nếu đặt lên bản đồ hiện đại, thì đến cuối triều đại của mình, Hốt Tất Liệt đã kiểm soát các tuyến đường biển từ đảo Sakhalin ngoài khơi Thái Bình Dương của nước Nga cho đến eo biển Hormuz ở vịnh Ba Tư nằm giữa Iran và nơi giao nhau của các nước Ả Rập là Oman, Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất. Không ngoa khi nói không một thế lực nào có thể làm được điều đó trước đây và kể cả sau này.
Trong 20 năm trị vì, Hốt Tất Liệt đã xây dựng một lực lượng hải quân lớn nhất thế giới, và với lực lượng này, ông đã thống nhất Trung Hoa, tạo dựng một mạng lưới giao thương kéo dài từ vùng Bắc Cực của Thái Bình Dương đến bờ biển nhiệt đới của Trung Hoa. Ông đã xây nên hệ thống trật tự thế giới hoàn toàn mới và nền thương mại toàn cầu dựa trên sức mạnh hàng hải. Từ những hạm đội "thuyền mành", ông là động lực để dựng xây nên những con tàu lớn nhất với công nghệ tinh vi nhất của thời đại đó, đi nửa vòng thế giới. Do đó khi nói Hốt Tất Liệt đã chuyển hướng dòng chảy lịch sử từ đất liền ra biển lớn thì đó hoàn toàn là một nhận định vô cùng chính xác.