Giữa Bergson và Trang Tử, tôi tìm thấy điểm chạm của triết học nhân loại
Bích Ngọc
Thứ Năm,
04/06/2026
4 phút đọc
Nội dung bài viết
Cuốn "Tiến hóa sáng tạo" của Henri Bergson làm mình nhớ đến cuốn "Lịch sử tư tưởng Trung Quốc" vì... đây chính là cuốn sách của nhà Omega khó nhằn nhất với mình trước khi đối thủ thứ hai xuất hiện. Đùa chút nhưng sự thật nó vậy. Tuy nhiên công bằng thì không chỉ có vậy, hai cuốn sách này vô tình cho mình thấy hai thế giới, cách nhau hàng ngàn năm và nửa vòng trái đất, lại có những điểm chạm triết học rất sâu sắc. Mình chắc chắn chưa đủ trải nghiệm hay tư duy để hiểu hết về các tư tưởng triết học này, mình mạnh dạn nêu 3 ý mình thấy thú vị khi nhận ra chúng để cùng chia sẻ.

Điểm chạm đầu tiên nằm ở khái niệm "Đà sống" (Élan vital) của Bergson. Bergson phủ nhận việc tiến hóa là một cỗ máy vật chất vô tri hay đã được lập trình sẵn. Với ông, cốt lõi của vạn vật là Đà sống, một năng lượng bùng nổ, liên tục tự kiến tạo và vươn lên. Điều này gợi lại nét tương đồng trong tư tưởng của Kinh Dịch: "Sinh sinh chi vị Dịch" (Sống rồi lại sống, sinh sôi nảy nở không ngừng gọi là Dịch). Cả hai hệ tư tưởng đều không nhìn vạn vật như những khối vật chất đã "hoàn thiện", mà xem vũ trụ là một cơ thể sống vĩ đại đang không ngừng "trở thành một cái gì đó".
Điểm chạm thứ hai là điểm mình tâm đắc nhất: khái niệm "Thời gian thuần túy" (Durée) của Bergson và sự chối từ thói quen cắt vụn thực tại của Trang Tử. Bergson kịch liệt chỉ trích "Trí năng" của con người vì thói quen đóng băng sự sống, cắt vụn thời gian thành từng mảnh nhỏ đo lường được để thao túng. Nhưng làm vậy là giết chết sự sống, bởi sự sống thực chất là một dòng chảy không thể phân chia. Hàng ngàn năm trước, Trang Tử cũng mỉa mai thói quen dùng khái niệm và logic để gắn nhãn vào sự vật và phân mảnh thực tại của con người. Trang Tử gọi Đạo là khúc gỗ nguyên bản chưa đẽo gọt. Ngay khi con người dùng trí năng để phân biệt đúng/sai, thiện/ác, sự toàn vẹn nguyên thủy của thực tại đã không còn là chính nó như là.
Cả Bergson và các triết gia phương Đông đều đồng ý rằng: Nếu xem thực tại là một dòng sông thì đừng cố đắp đập ngăn con sông thành những cấu phần đơn lẻ mà hãy hòa mình vào dòng chảy đó. Thế nhưng, họ cũng có những ngã rẽ về mặt tư tưởng sau bước "hòa vào dòng chảy đó".
Phương Đông, đặc biệt là Đạo gia, khuyên chúng ta hãy thả lỏng cho dòng nước cuốn đi theo tinh thần "Vô vi". Mục đích là để tìm sự tĩnh lặng, triệt tiêu cái tôi và quay về với cội nguồn tự nhiên để thấu hiểu một cách thấu suốt. Trong khi đó, Bergson lại mang đậm tinh thần dấn thân của phương Tây. Ông cho rằng không nên ở trong dòng chảy ấy một cách buông xuôi mà phải dùng chính sức mạnh của dòng nước đó để tiếp tục bứt phá. Dòng chảy đối với Bergson là động cơ để chủ động nhào nặn và sáng tạo ra những hình thái chưa từng tồn tại hơn là chạm đến Vô vi trong tư tưởng triết học Đông Phương.
Một bên chọn hòa mình vào dòng chảy để tĩnh lặng và quán chiếu, một bên mượn sức mạnh của dòng chảy để không ngừng vượt ngưỡng. Việc nhìn thấy điểm giao thoa và ngã rẽ của hai tư tưởng quả thực là một trải nghiệm mở rộng tư duy rất đáng giá.
-Trần Đăng Khoa-