Nạn đói năm 1945: Lời kể của những người ở lại
Nạn đói năm 1945 là một trong những thảm họa đau thương nhất trong lịch sử dân tộc, để lại vết sẹo không thể phai mờ trong ký ức của những người còn sống.
Tuyệt vọng, người dân buộc phải tìm kiếm sự sống từ mọi thứ họ thấy trong tự nhiên như rau dại hay củ chuối,... dù biết rõ hành động này có thể đe dọa trực tiếp đến tính mạng.

Đỉnh điểm, từ tháng 3 đến tháng 7/1945, sự khan hiếm lương thực gay gắt đến mức nhiều người phải tìm cách lấy những hạt ngô rơi vãi trong phân ngựa để ăn.
Bà Nguyễn Thị Vin, một người dân làng Nhũ Tỉnh (Hải Dương) bàng hoàng nhớ lại:
“Bố tôi phải ăn thính rang bằng cám, trấu nên bị đi kiết, không có tiền mua thuốc nên chết”.
“Mẹ tôi và anh tôi cũng vì đói quá, phải ăn nhiều thứ linh tinh, ăn quá nhiều chuối hột rồi lăn ra chết”.
Khi các nguồn thực phẩm tự nhiên cạn kiệt, cái đói đã chôn vùi nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hóa trước sự sinh tồn.
Nhiều gia đình phải rời bỏ quê hương, đi tha phương cầu thực rồi gục ngã nơi đầu đường xó chợ. Hình ảnh xác người nằm la liệt, làm mồi cho động vật hoang dã xuất hiện ngày càng nhiều.
Cảnh cướp bóc, đánh đập để tranh giành khẩu phần và đồ cứu trợ diễn ra khắp nơi. Thậm chí, có kẻ vì quá quẫn bách đã nhẫn tâm từ bỏ cả những người thân yêu nhất.
Ông Nguyễn Công Thức (sinh năm 1922, xóm Trỗ, làng Trung, xã Hưng Dũng, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An) chia sẻ:
“Trong làng tôi có nhiều người chết... Hầu hết họ chẳng có áo quần gì, chôn trần”.
“Cũng có người được bọc vào tơi, hoặc bì gai, chiếu. Đào sơ rồi chôn”.
“Lúc đầu còn sắp người xuống hố, quét vôi trắng, đắp hai tấm lá cót trở đầu đuôi rồi lấp lại. Về sau, người chết nhiều quá. Chỉ nhặt xác, đổ xuống hố rồi vùi đất lên”.
Dù nạn đói đã lùi xa, những câu chuyện về sự sinh tồn khắc nghiệt ấy vẫn là minh chứng cho một giai đoạn đau thương của dân tộc, nhắc nhở thế hệ mai sau về thời kỳ mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.
- Biên soạn: Lịch và Sử -