Người Do Thái và sự hình thành Chủ nghĩa Tư Bản
Hoạt động tài chính và thương mại của người Do Thái trong thế kỷ 18 được phân bố rộng tới mức các sử gia kinh tế đến nay đôi khi vẫn muốn coi họ là lực lượng chủ chốt trong việc tại ra hệ thống tư bản hiện đại. Nhưng nếu như người Do Thái chỉ là một trong các yếu tố tạo ra hệ thống thương mại hiện đại, thì chắc chắn đó là một yếu tố có sức ảnh hưởng lớn. Họ hợp lý hóa những gì an nhàn, truyền thống và thường có tính chất ngu dân. Ảnh hưởng của họ được thực hiện theo năm cách chính.
THỨ NHẤT, họ ủng hộ cải tiến sáng tạo.
Thị trường chứng khoán là một ví dụ. Đây là một cách hiệu quả và hợp lý để gây vốn và sử dụng vốn cho những mục đích tốt nhất. Các nhóm lợi ích buôn bán truyền thống phản đối vì không thể phân biệt được giữa những dư thừa nhất thời của thị trường với tính hiệu lực cơ bản của nó.
THỨ HAI, người Do Thái đi đầu trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của chức năng tiêu thụ.
Một lần nữa ở đây, có nhiều phản đối truyền thống. Chẳng hạn cuốn Complete English Tradesman (Nhà buôn đặc chất Anh) của Daniel Defoe (xuất bản lần thứ năm,1745), lên án việc trưng bày hàng hóa một cách cầu kỳ là vô đạo đức. Cuốn Postlethwayt’s Dictionary (Từ điển của Postlethwayt) bình luận về “cải tiến gần đây” trong ngành quảng cáo (1751): “cho dù vài năm trước, những người có tiếng trong buôn bán coi việc quảng cáo đến công chúng trên báo chí là việc làm đê tiện và ô nhục đến thế, thì hiện tại việc này có vẻ như được đánh giá hoàn toàn ngược lại, những người có uy tín lớn trong buôn bán coi đây là phương pháp… tốt nhất để truyền tải những gì họ có đến toàn vương quốc”. Một sắc lệnh ở Paris năm 1761 trên thực tế cấm các nhà buôn “đuổi theo nhau tìm khách hàng” hay “phân phát tờ rơi để thu hút sự chú ý đối với hàng hóa của họ.” Người Do Thái nằm trong số người đi đầu trong việc trưng bày, quảng cáo và khuyến mãi sản phẩm.
THỨ BA, họ nhằm vào hệ thống rộng lớn nhất có thể. Họ đề cao tầm quan trọng của nền kinh tế quy mô.
Như trong lĩnh vực ngân hàng và cho vay lãi thời trung cổ, họ sẵn lòng chấp nhận lợi nhuận ít hơn để đổi lấy doanh thu lớn hơn.
THỨ TƯ, họ rất nỗ lực giảm giá.
So với các nhà buôn có tiếng, họ sẵn sàng làm ra một sản phẩm kém chất lượng hơn, rẻ tiền hơn và bán cho thị trường bình dân. Họ không đơn độc trong chuyện này. Ngài Josiah Child, trong cuốn Discourse on Trade (Bàn về thương mại) (xuất bản lần thứ tư, 1752) của mình, đã chỉ rõ: “Nếu chúng ta muốn có nền thương mại thế giới, chúng ta phải bắt chước người Hà Lan, họ làm ra những sản phẩm tệ nhất cũng như tốt nhất, để chúng ta có thể phục vụ mọi thị trường và mọi thị hiếu.” Khả năng phá giá của người Do Thái gây nên những bình luận, giận dữ và cáo buộc rằng họ làm ăn gian dối hoặc buôn hàng lậu hay hàng bị tịch thu. Trên thực tế, đó thường là một trường hợp hợp lý hóa khác. Người Do Thái sẵn sàng buôn đồ bỏ đi. Họ biết cách dùng chúng vào việc gì. Họ chấp nhận nguyên liệu thô rẻ tiền hơn, hoặc nghĩ ra đồ thay thế và chất tổng hợp. Họ bán hàng chất lượng kém hơn cho người nghèo vì đó là tất cả những gì người nghèo đủ tiền mua.
Họ đi sâu hơn vào nền kinh tế quy mô bằng cách mở cửa hàng bách hóa bán rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Việc này khiến các nhà buôn truyền thống vốn chỉ chuyên bán một sản phẩm giận dữ, nhất là khi người Do Thái thu hút khách thông qua cái mà chúng ta bây giời gọi là “hàng bán lỗ để câu khách.”
Quan trọng nhất, trong buôn bán, người Do Thái có xu hướng dễ chấp nhận hơn việc người tiêu dùng là trọng tài thương mại tối thượng, và việc các doanh nghiệp ăn nên làm ra là nhờ đáp ứng lợi ích người tiêu dùng chứ không phải lợi ích phường hội. Khách hàng luôn đúng. Thị trường là quan tòa cuối cùng. Những chân lý này không nhất thiết do người Do Thái tạo ra hay chỉ có người Do Thái mới nghe theo, nhưng người Do Thái ứng dụng chúng nhanh hơn hầu hết những người khác.

THỨ NĂM, người Do Thái đặc biệt giỏi trong việc thu thập và sử dụng tin tức tình báo thương mại.
Khi thị trường trở thành yếu tố chủ đạo trong mọi loại hình buôn bán, và khi nó phát triển thành một chuỗi các hệ thống toàn cầu, thì tin tức trở nên quan trọng hàng đầu. Đây có lẽ là yếu tố lớn nhất trong thành công về buôn bán và tài chính của người Do Thái. Vào thời đại cách mạng công nghiệp, họ đã vận hành các mạng lưới buôn bán gia đình trên một khu vực ngày càng mở rộng trong gần hai thiên niên kỷ. Họ đã luôn là những người viết thư đầy đam mê. Từ Leghorn, Prague, Vienna, Frankfurt, Philadelphia – giữa tất cả những trung tâm này – họ điều hành các hệ thống thông tin nhạy cảm và tốc độ, cho phép phản ứng nhanh chóng trước các sự kiện chính trị và quân sự, trước các nhu cầu đang thay đổi của thị trường khu vực, quốc gia và thế giới. Các mạng lưới người Do Thái, họ nằm trong số những người thạo tin nhất thế giới.
Thương mại truyền thống kiểu trung cổ có xu hướng bị thiệt hại do cái mà cho đến nay được gọi là “ngụy biện vật chất”, cho rằng hàng hóa có một giá trị cố định và tuyệt đối. Trên thực tế, giá trị thay đổi theo không gian và thời gian. Thị trường càng lớn, khoảng cách càng lớn thì giá trị càng thay đổi nhiều. Đưa đúng loại hàng hóa đến đúng nơi đúng lúc là bản chất của thành công thương mại. Điều này khi nào cũng vậy. Nhưng vào thế kỷ 18, kích cỡ và quy mô thị trường gia tăng khiến nó trở nên tối quan trọng. Nó củng cố ý nghĩa của việc ra quyết định chiến lược trong kinh doanh. Quyết định dĩ nhiên phản ánh chất lượng thông tin có được trong quá trình ra quyết định. Đó là chỗ các mạng lưới Do Thái ghi điểm.
Vì tất cả những lý do này, đóng góp của người Do Thái cho việc tạo ra chủ nghĩa tư bản hiện đại hoàn toàn tỉ lệ nghịch với dân số của họ. Nhìn chung, họ mang tới hệ thống kinh tế thế kỷ 18 một tinh thần hợp lý hóa mạnh mẽ, một niềm tin rằng những cách làm hiện tại chẳng bao giờ là đủ tốt, và rằng những cách là tốt hơn, dễ hơn, rẻ hơn, nhanh hơn có thể và phải được tìm ra. Chẳng có gì khó hiểu về nền thương mại của người Do Thái, cũng chẳng có gì thiếu trung thực, chỉ đơn giản là lý trí.
- Trích lược từ tác phẩm: LỊCH SỬ DO THÁI -