Phong ba bão táp không bằng… ngữ pháp Việt Nam
Nếu câu nói “phong ba bão táp” không bằng ngữ pháp tiếng Việt đã khá quen thuộc, thì với nhiều nhà du hành đến Đông Dương từ hơn một thế kỷ trước, con đường cái quan mới chính là thứ khiến họ chùn bước. Đơn cử trong bài viết “Từ Thị Nại đến Bla” ghi lại chuyến đi từ Quy Nhơn đến Kon Tum thuộc tập “Việt Nam - Những tiếng vọng từ quá khứ”, công sứ Quy Nhơn Eugène Navelle đã viết về những “chông gai” mà mình gặp phải.
Theo đó, ông nói dù con đường thiên lý (hay cái quan) có vai trò huyết mạch, nối kết kinh đô với các tỉnh xa nhất ở Bắc kỳ và Nam kỳ, nhưng tình trạng của nó lại khá tồi tệ. Đơn cử tại vô số điểm núi non cắt bờ biến thành thung sâu, con đường chỉ nhằm mục đích rút ngắn khoảng cách. Nó trở thành đường mòn và để nhanh hơn, nó bám sát mục tiêu bằng cách băng qua những con đèo bằng dốc đứng nhất, thậm chí đôi khi như ở Phú Yên, đường là những bậc thang gập ghềnh bằng đá tảng hết sức hiểm trở buộc người ta phải xuống ngựa đi bộ; sau đó đường dẫn xuống đồng bằng, cho thấy nó chẳng mấy tiết kiệm thời gian của du khách; rồi nó men theo những khúc quanh của bờ biển, có lúc không màng tới thủy triều dâng; ở nhiều nơi khác đường lại bung rộng với cây cối và hoa thơm che phủ để rồi quên mất và đắm chìm trong bùn ruộng.

Bên cạnh đó, khi gặp các dòng chảy, con đường cũng đột ngột kết thúc, khiến người ta phải dùng bè tre vượt qua, để rồi có lúc tạo thành bãi cạn. May mắn là có các cầu gỗ hoặc cầu đá nối hai bờ sông, nhưng những cây cầu gỗ dựng theo kiểu An Nam này vừa hẹp vừa yếu. Cầu đá xây bằng đá Biên Hòa thì chắc chắn hơn, chỉ có một hoặc hai nhịp và rộng bằng lòng đường, xuất hiện từ thời xa xưa trước khi xứ này bị vua chúa Bắc kỳ chinh phục. Nó cần thiết để vận chuyển vật liệu nặng dùng xây dựng các công trình Chàm. Tên gọi và vị trí của nhiều cầu chỉ ra rằng kể từ khi xây cầu thì rất nhiều dòng chảy nhỏ đã biến mất không còn dấu vết hoặc đúng hơn là đồng bằng được tưới tiêu bằng những kênh đào. Những kênh dẫn nước này sau đó sớm đã bị lấp sau khi nông dân Chàm bỏ đi, và khi cầu đá không được duy tu, nó cũng xuống cấp.
Từ tình trạng này, Eugène Navelle cũng cho ta thấy phương tiện giao thông vào thời điểm này. Theo đó, không hề có xe ngựa, xe thồ mà phương tiện có bánh xe duy nhất được biết đến là chiếc cút kít của thợ đào đất. Cụ thể, mọi thứ được vận chuyển trên lưng người chứ hiếm khi trên lưng ngựa. Hàng hóa nhẹ thì dùng thúng mủng móc lên hai đầu quang gánh rồi phu phen quẩy đi; hàng nặng thì treo giữa quang gánh, hai đầu sẽ có người kê vai vào gánh; du khách cũng di chuyển theo lối nằm trên võng có mái che, võng này đậu rất nhiều ở cửa khách điếm giống như những cỗ xe chờ ở bến vậy.
Trong lúc đó chỉ quan lại hoặc người Trung Hoa mới cưỡi ngựa có yên cương. Ngựa thồ thường được dùng ở miền núi. Xưa kia có nhiều voi nhưng nay chỉ còn hai con thuộc về chính quyền và chúng chỉ ra khỏi chuồng để đi kiếm cái ăn. Tuy thế con đường được duy tu tốt hơn ở đoạn đi vào tỉnh lỵ, là đường chính chạy qua thành Bình Định. Những ngôi nhà nằm hai bên đường lợp tranh vách đất chỗ ngoại ô nhưng càng vào trong châu thành thì càng khang trang hơn và sát thành, trong khu phố người Hoa là những ngôi nhà xây bằng gạch lợp mái ngói.
Bên cạnh đó, trong hành trình từ Huế ra Hà Nội bằng đường cái quan, nhà thám hiểm Robert Chauvelot cũng ghi trong bài “Khám phá Viễn Đông” rằng mình đã tự ghi tên vào một kỷ lục vô tiền khoáng hậu: Kỷ lục về các loại phương tiện phong phú nhất và chắp vá nhất để đến Hà Nội. Theo đó ông phải trải qua hỏa xa, tam bản, cáng, xe kéo, cưỡi ngựa, xe hơi, xe ngựa, xe bò và không biết bao lần phải cuốc bộ. Ông hài hước viết: “Nhưng là một lữ khách chai dạn từng thấy vô vàn phương tiện khác, tôi quyết tâm không kinh ngạc gì nữa, thậm chí nếu cần có thể dùng phi cơ, tàu ngầm và kể cả... xe tăng!”. Những điều này phần nào tiết lộ tình hình đường xá ở Đông Dương một thế kỷ trước, từ đó mang đến những trải nghiệm vô cùng thú vị.
Nhưng không chỉ có đường cái quan, mà người An Nam cũng rất nhiều lần làm người ngoại quốc cảm thấy bất ngờ. Theo đó, nếu ngày nay khi hỏi đâu là đặc điểm mà người nước ngoài cảm ấy yêu thích ở người An Nam, thì đó chắc hẳn là sự xởi lởi, cởi mở và rộng lượng. Nhưng với những người mới đến nơi đây, đôi khi mối thịnh tình ấy lại gây... khó chịu.
Điều này thể hiện rõ nhất trong bài “Từ Thị Nại đến Bla”. Đơn cử Eugène Navelle kể rằng khi dừng chân ở Kỳ Bương, thay vì được đón tiếp bởi các giáo dân đã được lên lịch trước, thì vị này và mục sư đi cùng đã có một buổi trưa “bất khả kháng” độc đáo. Cụ thể, thay vì thông bố về sự xuất hiện của những khách quý cho ngôi làng lớn ở phía trước, thì người dẫn đường sống ở làng bên cạnh muốn giành lấy vinh dự thết đãi nhà truyền giáo nên đã không dừng lại theo kế hoạch. Dẫn đến buổi trưa hôm ấy, họ đã dùng cơm với... trứng vịt lộn. Theo Eugène, “những quả trứng lộn thực sự là trải nghiệm khủng khiếp ngay cả khi bụng đói cồn cào! Cha I..., người đã chế ngự được xác thịt đến mức bỏ bữa để cho tôi được thoải mái lựa chọn những quả trứng đỡ tệ nhất”.
Sau đó trong bài viết “Khám phá Viễn Đông”, Robert Chauvelot cũng đã trải qua trải nghiệm tương tự. Ông viết khi băng qua làng Quảng Kê từ Huế đến Hà Nội, giữa đồng và ruộng nối dài vô hạn, viên cai trạm người bản xứ tặng cho ông ba con diệc sống làm quà, với mắt của chúng đã bị khâu lại để khỏi đánh nhau. Ông hài hước viết: “Thật khó để hiểu lòng tốt của họ!... Chúa ơi, tôi phải làm gì với ba con chim cồng kềnh này? Thà bỏ chúng lại cho chủ nhân hiện thời còn hơn là kết liễu chúng”.
Tuy vậy mọi chuyện không dừng ở đó, bởi sau khi trải qua một đêm kinh hoàng với cái lạnh dữ dội, khi đang muốn rời khỏi đây càng nhanh càng tốt, thì ông lại gặp phải sự dông dài về mặt nghi lễ. Ông kể: “Ngay khi tôi vượt khỏi lũy tre bao quanh dịch trạm thì có một người An Nam ăn mặc đẹp đẽ tiến đến, theo sau ông ta là nhiều hào mục khác. Với một cử chỉ khúm núm, ông già này đã chặn tôi lại và bắt đầu đọc cho tôi nghe một tràng dài những chữ chép trên mảnh giấy cói mà đương nhiên tôi chẳng hiểu gì”. Bài viết cứ thế kéo dài tưởng như không dứt, cuối cùng vì không chịu nổi, người bồi bếp của ông đã chộp lấy cái roi mây để lao vào người hào mục vẫn đang hào hứng đọc... bài thơ mà họ đã soạn vào đêm hôm trước.
Không chỉ mối thịnh tình mà cách đặt tên của người An Nam cũng khiến người ngoại quốc cảm thấy bất ngờ. Như Chauvelot từng nói: “Ở Viễn Đông, bạn cứ phải cảnh giác với thứ ngôn ngữ đậm chất thi ca nhạc họa được vận dụng trong cách đặt tên cho danh lam thắng cảnh Lỗi giao diện: file 'snippets/shortcode-....bwt' không được tìm thấy bởi người ta rất dễ bị quyến rũ bởi mị lực của ngôn từ khoa trương, trong khi thực tế lại thường trái ngược...” Ông lấy ví dụ trên đèo Mây đi Huế không hề có... mây, và nhiều ví dụ tương tự.