Triều đình nhà Nguyễn trong mắt người Pháp
Thường bị coi là “bù nhìn”, “không có thực quyền”, thế nhưng cũng có những vị vua thuộc triều đại phong kiến Việt Nam khiến người phương Tây cảm thấy khâm phục. Một trong số đó là vua Khải Định dưới mắt nhà thám hiểm Robert Chauvelot.
Trong bài viết “Khám phá Viễn Đông” thuộc tập “Việt Nam - Những tiếng vọng từ quá khứ”, ông gọi vị yếu nhân này là “người bạn lớn của nước Pháp, người khôn ngoan, sáng suốt, cao nhã, văn minh và tinh tế”. Ông cho biết mình được giới thiệu với vua Khải Định nhờ mối thân tình với Toàn quyền Albert Sarraut, và sớm nhận ra ở đây một con người lớn, một nhân cách lớn, một tri thức toàn diện.
Ông bộc bạch bản thân đã gặp vị vua 3 lần: lần đầu là trong một bữa tiệc trọng thể ở Bộ Thuộc địa; lần hai là ở lô sát sân khấu của nhà hát Opéra, trong buổi dạ tiệc; cuối cùng là ở lễ khánh thành chùa An Nam ở Nogent-sur-Seine. Tuy không – thời gian có sự khác nhau, nhưng điểm chung lần nào cũng thấy đó là hai điều: Phong thái đặc biệt, được hun đúc từ sự điềm tĩnh và nhã nhặn và Thái độ hết sức trân trọng dành cho nước Pháp - thế lực bảo hộ của đế quốc An Nam.

Ông dẫn chứng điều này bằng những lời hào hùng và cảm động mà vua Khải Định gửi đến Albert Sarraut (khi ấy là Bộ trưởng bộ Thuộc địa): “Các vị có tư tưởng sống động, hoạt náo và sáng tạo. Chúng tôi có tư tưởng trầm mặc, ưa chiêm nghiệm từ những vật vô tri. Bằng con đường của khối óc và trái tim, các vị đã biết tôn trọng quá khứ của chúng tôi và lấy quá khứ ấy phục vụ cho tương lai huy hoàng của quí vị. Bằng trí tuệ tuyệt vời và tinh tế, các vị đã không chối bỏ, khinh thường điều gì ở chúng tôi. Đây là lý do tại sao tôi đã vượt trùng khơi đến đây học hỏi từ quý vị, từ tài năng hiển minh của quý vị một bài học hòa giải vĩ đại, bài học sẽ gắn kết mãi mãi vận mệnh của dân tộc tôi với vận mệnh của thượng quốc Pháp.” Ở đó ta thấy có sự khiêm nhường nhưng không hề hạ mình trước một nước lớn như là nước Pháp.
Ngoài tài năng, phần nhìn cũng để lại những ấn tượng lớn. Ông viết về dáng vẻ, vua Khải Định có chiều cao trung bình, mảnh khảnh, tay chân khẳng khiu, luôn vận trang phục sang trọng và trang nhã. Mỗi ngày ngài thay hai đến ba chiếc áo dài, áo cánh và cổn bào. Số lượng mũ miện và hia hài của hoàng đế nhiều không đếm xuể. Ngài cũng yêu thích đồ trang sức nhưng đeo chúng một cách kín đáo và tiết độ hơn các ông hoàng Ấn Độ. Một trong những trò giải trí ưa thích của ngài khi ở Huế là săn vịt, le le và sâm cầm trên bàu Sen thiêng liêng. Vị này cũng sớm nhận ra tình yêu với nghệ thuật của hoàng đế, trong cả âm nhạc cũng như hội họa. Ông đúc rút: “Đây là một ông hoàng thập thành. Chắc chắn là vị hoàng đế xuất sắc nhất của An Nam trong vòng nửa thế kỷ nay”.
Trong Hội Du xuân diễn ra vào đầu năm ấy, với khu cảnh rộn ràng những hoàng tử, đại thần văn võ, cẩm vệ quân và cờ hiệu rực rỡ, cờ xí thêu lụa tung bay trong tiếng trống tiếng chiêng... vị du khách này nhìn thấy ở đó “một thần tượng sống mà thần dân hai bên bờ sông Hương hướng về với nỗi sợ hãi xen lẫn tự hào, để phước lành của thiên địa thần linh tưới đẫm mảnh đất An Nam và bồi đắp cho những mùa vụ sắp tới”.
Trong khi đó ở bài “Lược khảo về các nguồn sử liệu An Nam”, cố cả L.Cadiere và Paul Pelliot cũng ca ngợi sự quan tâm của các vị vua đến văn học, nghệ thuật. Cụ thể, ông viết “các vua nhà Nguyễn rất chú tâm đến văn chương. Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức là những vị có học thức sâu rộng nhất trong hoàng tộc. Ngoài ra bên cạnh những thi tập đồ sộ, những cuốn tự điển vần điệu chỉ còn lại thủ bản, may thay Gia Long đã cho lập bản đồ cương vực chi tiết, và những người kế vị ông đã chú trọng biên soạn sử ký như “Cang mục” hay ghi chép hành chính như “Đại Nam hội điển”. Trên hết chúng ta biết ơn các vị vua triều Nguyễn vì họ đã cho chúng ta cơ hội tham khảo nhiều tác phẩm mà trước kia chỉ được nghe nhắc đến nhan đề. Thật vậy, kể từ triều Minh Mạng, một thư viện lớn đã được xây dựng trong Nội các gọi là Tụ khuê thơ viện. Một kho sách chữ Hán phong phú được tìm mua từ Trung Hoa; còn tại An Nam, sách vở cũ thất tán thì cho thu thập đem về cung điện.”
Hay ở “Hoàng đế và triều đình An Nam”, Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier cũng nhắc đến các lăng tẩm của các vua Nguyễn. Theo đó ông thấy ở đây những công trình có quy mô hoành tráng, thậm chí còn vượt hẳn các lăng của các vị vua ở mẫu quốc. Ông viết: “Trong bố cục uy nghi của những lăng tẩm ấy, hình như có dáng vẻ của các đại lộ và lối đi trong lâu đài Versailles, một dấu ấn mỹ học Tây phương từng được phái bộ Pháp đưa vào triều đình Gia Long chăng?”. Và dù dễ đánh đồng đây là một nỗ lực phô trương quyền lực, nhưng ông cũng dành cái nhìn vô cùng công bằng: “Không nên ép buộc cho lăng tẩm một ý nghĩa quen thuộc, hẹp hòi của một công trình đồ sộ chỉ thuần lưu chứa một cổ quan tài. Lăng mộ ở Huế là cả một quần thể rộng lớn vài hecta. Chính nhà vua cũng là nghệ sĩ thiết kế, đã biết kết hợp kiến trúc với tự nhiên theo lối hài hòa nhất, đem lại hiệu ứng cảnh quan tuyệt vời nhất. Giữa khung cảnh tráng lệ và hùng vĩ của đồi thông, cây đa cổ thụ và phượng vĩ rực đỏ, mộ phần u tịch khiến người ta không khỏi suy tư và kính cẩn.”
Bên cạnh các vị vua, Pierre Pasquier cũng đã cho thấy những điều thú vị về bộ máy chính quyền của người An Nam trong bài viết này. Theo ông, là lãnh đạo tối cao của chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối, nhưng khác với Pháp, Hoàng đế và dân chúng ở xứ ta không bị ngăn cách bởi bất kỳ tầng lớp quý tộc nào. Bởi lẽ những người trung gian - tức quan lại - xuất thân từ lê dân và con cháu họ nếu không thể tiến thân bằng tài năng và khoa cử thì sẽ trở lại với địa vị lê dân. Ngay cả sĩ phu cũng không hình thành một giai tầng riêng biệt. Bất chấp ảnh hưởng của mình, sĩ phu vẫn chỉ là thành phần tinh hoa của dân chúng và sẽ tiến thân bằng con đường khoa cử. Ông cũng nhận ra quyền lực tuyệt đối, chế độ chuyên chế này không bị giới hạn bởi bất kỳ hiến pháp thành văn nào. Tuy nhiên ranh giới, bổn phận và quyền hạn của nó phải tuân thủ luân lý Nho giáo vốn kiềm hãm quyền lực trong một khuôn khổ mang tính thực dụng.
Ông cũng tái hiện lại những “sinh hoạt” đặc biệt ở giai đoạn đó, Chẳng hạn trong buổi thiết triều, khi hoàng đế hỏi một vấn đề chung thì quyền trả lời trước thuộc về vị đại thần có phẩm hàm cao nhất, sau đó mới đến các quan theo thứ bậc giảm dần: kẻ nào chen ngang sẽ bị treo bổng lộc một tháng. Từ đây ông nhấn mạnh “Khi lễ nghi chi phối xã hội An Nam và ngay cả hoàng đế cũng không nằm ngoài sự kiểm soát ấy thì chính nó đã giúp dân chúng duy trì phép tắc và lịch thiệp mà người Pháp chúng ta phải quý trọng đúng mức hơn bất kỳ ai khác”.
Pasquier cũng khẳng định đừng nghĩ rằng vua chúa An Nam lười biếng, chỉ biết hưởng thụ nơi lầu son gác tía, bởi vai trò của họ trong lịch sử rất quan trọng và ở bất kỳ triều đại nào họ cũng mang tham vọng bành trướng và thống nhất quốc gia. Họ đã kháng cự các cuộc xâm lăng từ phương Bắc bằng ý chí kiên cường đáng khâm phục và đẩy lui các cuộc tấn công của cường quốc "Chàm" - vốn là đạo tiên phong của các thế lực phương Nam mà Đại Việt phải đối đầu và khuất phục trong hành trình mở cõi. Họ đã dẹp bỏ một hình thức phong kiến từng đe dọa công cuộc thống nhất mà họ theo đuổi, bằng cách dựng nên các gia tộc thế quyền ở Bắc kỳ và Trung kỳ - những thế lực ôm mộng ly khai. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, họ đã tiếp thu từ Trung Hoa đạo lý, triết thuyết, văn tự và nhiều phong tục... Những điều này cho thấy sự quan tâm của ông đến lịch sử lâu dài của An Nam ta.
Ngoài ra, ông cũng chỉ ra những điểm tiên tiến của An Nam. Đơn cử nếu ở Pháp, việc thừa kế tước vị quý tộc từ lâu đã được hình thành, nhưng theo Pasquier, điều này cũng ghi ra những hạn chế nhất định, như có khi hậu duệ của những bậc sĩ nhân tỏ ra lừng lẫy hơn cả tổ tiên của họ, thì số khác thì lại mục ruỗng theo từng thế hệ. Trong khi về lý, con trai của vĩ nhân được phong tước chỉ có một nửa phần quý tộc và cháu trai thì chỉ còn một phần tư. Đến một lúc nào đó, càng xa thời đại của vĩ nhân ấy thì gia tộc phải trở lại tầng lớp thường dân, trừ phi họ tự gây dựng tước vị mới của riêng họ. Và chính điều này đã được An Nam thực hiện ngay từ xa xưa. Theo đó tước vị được truyền thừa nhưng sau mỗi đời phải giảm một bậc. Cụ thể, có tất cả năm bậc, nếu giả sử được phong bậc cao nhất thì chỉ có thể truyền lại cho năm đời mà thôi. Vì vậy, quý tộc chỉ giới hạn ở tước vị tạm thời ban cho thần dân có công trạng và sẽ hạ bậc theo mỗi đời. Điều này được coi là sự tiến bộ so với những người cho mình mang theo số mệnh khai hóa.