Một "công trình đời người" mà John Schafer dành cả đời để nghiên cứu và viết về Trịnh Công Sơn
Bích Ngọc
Thứ Ba,
12/05/2026
13 phút đọc
Nội dung bài viết
Đây là tác phẩm lớn mà tôi mất hơn 3 tuần để đọc, dù sáng sáng ôm cuốn sách dày gần 900 trang ra quán cà phê là một thử thách không nhỏ. Bù lại, cuốn chuyên luận này mang lại cho tôi một trải nghiệm đọc đáng giá, không chỉ hiểu sâu (và rộng) hơn về cuộc đời và di sản nghệ thuật của hai nhạc sĩ lớn mà còn được biết thêm về bối cảnh văn hóa và tinh thần thời đại đã nuôi dưỡng và ươm mầm cho sáng tạo của họ.
"Trịnh Công Sơn & Bob Dylan - Essay of Love, War, Songwriting and Religion" (2023) của giáo sư, học giả John C. Schafer vừa được nhóm dịch giả của đại học Fulbright Việt Nam dịch ra tiếng Việt với nhan đề "Để Gió Cuốn Đi - Tình Yêu, Chiến Tranh, Sáng Tác Ca Khúc và Tôn Giáo Trong Âm Nhạc Của Trịnh Công Sơn và Bob Dylan". Đây thực sự là một "công trình đời người" - một chuyên luận lớn mà John Schafer dành cả đời để nghiên cứu và viết.

Giới thiệu một chút về tác giả: John C. Schafer là giáo sư Danh dự ngành Văn học Anh tại Đại học Cal Poly Humboldt ở Arcata, bang California. Cuối thập niên 1960, ông từng đến Huế và Đà Nẵng để dạy tiếng Anh cho một chương trình thiện nguyện của Mỹ và sau đó dạy ở ĐH Huế theo chương trình của Fulbright. Vợ ông là Cao Thị Như Quỳnh, một người phụ nữ sinh trưởng trong một gia đình trí thức ở Huế, trong đó có Cao Huy Thuần, một giáo sư và Phật tử nổi tiếng - là anh vợ của ông. Có lẽ vì thế mà John Schafer dành nhiều năm trong cuộc đời nghiên cứu về Phật giáo, văn chương và âm nhạc Việt Nam. Điều này được thể hiện trong 3 cuốn sách chuyên luận - khảo cứu về Trịnh Công Sơn và Bob Dylan mà ông đã viết và xuất bản ở Việt Nam.
Trong phần Dẫn nhập, John C. Schafer cho biết ông là “người cùng thời” với Bob Dylan và Trịnh Công Sơn. Ông viết rằng hồi còn học đại học những năm 1960, Bob Dylan và Joan Baez là hai ca sĩ yêu thích hàng đầu của ông. Và những năm cuối thập niên 60 khi đến Việt Nam để giảng dạy tiếng Anh, ông bắt đầu nghe những ca khúc của Trịnh Công Sơn do Khánh Ly thể hiện.
”Những bài hát của họ cũng như những bài hát của Joan Baez và Bob Dylan đã in sâu vào kí ức của tôi. Và khi nghe lại những giai điệu đó, tôi lại nhớ về thời kì đầy biến động của Việt Nam và Hoa Kỳ.”
"Trịnh Công Sơn không phải là Bob Dylan của Việt Nam".
Động lực để John Schafer bắt tay vào nghiên cứu về Trịnh Công Sơn và Bob Dylan là khi ông biết Bob Dylan tổ chức một buổi hòa nhạc tại TPHCM (10/4/2011), trong đó sẽ có các ca khúc của Trịnh Công Sơn, người qua đời năm 2001. Thế nhưng những gì diễn ra trong buổi hòa nhạc ấy khiến ông vô cùng thất vọng. Theo báo chí thuật lại, khi chương trình diễn ra, nhạc của Trịnh Công Sơn chỉ là màn mở đầu cho Bob Dylan.
Ông bức xúc: "Một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất của Việt Nam lại bị chuyển xuống thành màn “khởi động làm nóng”. Không những thế, những khán giả của đêm nhạc, 70% là du khách nước ngoài hoặc khách du lịch – những người không biết Trịnh Công Sơn là ai – đã bắt đầu la hét, 'chúng tôi muốn Bob' giữa đêm diễn. Bản thân Bob Dylan cũng không có dấu hiệu gì cho thấy ông từng nghe nói đến Trịnh Công Sơn. Vì vậy mà như một nhà báo viết, “cái danh Bob Dylan đến Việt nam để tri ân Trịnh Công Sơn lại càng trở nên sống sượng hơn khi suốt cả chương trình, Bob chẳng hề có một lời nhắc đến Trịnh.”
Sự kiện đêm nhạc đó trở thành một 'mồi lửa' để John Schafer bắt tay vào công trình nghiên cứu quan trọng nhất trong sự nghiệp học thuật của ông qua 3 tác phẩm: Trịnh Công Sơn và Bob Dylan: Như Trăng và Nguyệt – Cao Huy Thuần giới thiệu, Cao Thị Như Quỳnh dịch (NXB Trẻ 2012); Trịnh Công Sơn và Bob Dylan: Một Đối Chiếu Về Tôn Giáo Chiến Tranh & Tình Yêu (Cao Thị Như Quỳnh dịch - NXB Đà Nẵng) và mới nhất là Để Gió Cuốn Đi - Tình Yêu, Chiến Tranh, Sáng Tác Ca Khúc và Tôn Giáo Trong Âm Nhạc Của Trịnh Công Sơn và Bob Dylan (Nhóm dịch giả ĐH Fulbright VN - Omega+ xuất bản).
Trong cuốn chuyên luận mới nhất (và đồ sộ nhất), John Schafer đã lần lượt truy tìm nguồn gốc của danh xưng gọi Trịnh Công Sơn là Bob Dylan của Việt Nam. Một số tài liệu cho biết danh xưng đó có từ thập niên 70 và có lẽ xuất phát từ Joan Baez khi bà đến Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất và trở về nói với báo chí Mỹ rằng ở Việt Nam có một nhạc sĩ được gọi là "Bob Dylan của Việt Nam" do những tương đồng trong sáng tác của hai nhạc sĩ này, đặc biệt là những ca khúc phản chiến hoặc tình ca. Và kể từ đó, báo chí-truyền thông làm đậm thêm danh xưng đó, bất chấp hai người được so sánh có vẻ không quan tâm đến điều đó.
John Schafer không phủ nhận hoàn toàn rằng Trịnh Công Sơn không phải là Bob Dylan của Việt Nam. Ông chỉ ra 7 điểm khá tương đồng giữa Bob và Trịnh: Cả hai đều được gọi là nhà thơ, chứ không chỉ đơn thuần là người viết nhạc. Cả hai đều viết những bản tình ca lay động lòng người. Cả hai đều từng có mối quan hệ tình cảm với những nữ ca sĩ, những người góp phần giúp họ trở nên nổi tiếng. Cả hai đều có một sự nghiệp lâu dài với tư cách ca sĩ-nhạc sĩ thành công. Cả hai đều được truyền cảm hứng từ truyền thống tôn giáo của họ…
Nhưng một trong những lý do quan trọng nhất khiến Trịnh Công Sơn không nên được gọi là Bob Dylan của Việt Nam chính là vì ông là Phật tử, trong khi Bob Dylan được mô tả chính xác nhất là tín đồ của Do Thái-Kitô giáo.
John Schafer khảo luận rất hay: ông đặt hai tượng đài cạnh nhau để cho thấy họ… khác nhau đến tận gốc: Bob Dylan là nghệ sĩ của lịch sử, phản kháng, xã hội trong khi Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ của thân phận, vô thường, siêu hình. Dylan: sắc, trực diện, có tính chính trị, dùng ngôn ngữ như vũ khí. Còn Trịnh: mơ hồ, trôi nổi, phi tuyến tính, dùng ngôn ngữ như sương khói.
Nếu Bob Dylan viết để chất vấn thế giới, thì Trịnh Công Sơn dường như viết để an ủi những linh hồn đang bị thế giới làm tổn thương.
Bob Dylan đứng giữa dòng lịch sử. Trịnh Công Sơn đứng bên lề chiến tranh, nhìn những xác người trôi qua đời mình như một định mệnh siêu hình.
Điểm thú vị là Schafer không cố “quốc tế hóa” Trịnh bằng cách biến ông thành Dylan Việt Nam. Ngược lại, ông chứng minh Trịnh Công Sơn là một hiện tượng rất riêng của Việt Nam, của Phật giáo, của chiến tranh, của nguồn mạch Việt Nam, và của cảm thức Á Đông.
“Tính mơ hồ - thứ làm nên sự bất tử của nhạc Trịnh.
Để Gió Cuốn Đi không phải kiểu sách đọc để “nắm thông tin”, mà là kiểu sách để người ta lang thang (dù đôi khi bị lạc) trong đó, như đi giữa một khu rừng của âm nhạc, tình yêu, chiến tranh, tôn giáo và ký ức. Một trong những chương hay nhất với tôi là chương 19, có tên "Hiểu về tính mơ hồ trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn".
Điều đáng kinh ngạc ở John Schafer không chỉ là kiến thức, mà là sự kiên nhẫn và lòng tận tụy gần như mang tính tín ngưỡng với Trịnh Công Sơn. Một người Mỹ - đến từ phía bên kia của cuộc chiến lại dành hàng chục năm để đọc, dịch, nghe, đối chiếu, rồi cố gắng bước vào vùng mơ hồ của nhạc Trịnh.
"Một lý do khiến ca từ của Trịnh Công Sơn trở nên mơ hồ liên quan đến khái niệm về lời ru. Khi nói về những lời ru của Trịnh, Cao Huy Thuần nhận xét rằng, chúng không phải để dỗ giấc ngủ mà để dỗ thương đau… Và bởi vì thương đau quá dài nên Trịnh Công Sơn ru mãi, ru hoài. Hình ảnh lời ru xuất hiện nổi bật trong Tuổi Đá Buồn và Mưa Hồng, những bài hát, như tôi đã thảo luận trong chương trước, chứa nhiều thủ pháp lạ hóa. Trong Tuổi Đá Buồn, từ “ru” xuất hiện tám lần và Mưa Hồng kết thúc bằng những câu hát liên kết “cơn đau dài” với một lời ru.
Trịnh Công Sơn tiết lộ rằng ông đặt niềm tin vào trực giác của người nghe, qua những nhận xét về bài hát Một Cõi Đi Về. Trong một bài phỏng vấn, ông trả lời: “Đây là một bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu vì có những câu trong bài hát này bản thân tôi cũng khó giải thích. Viết thì viết vậy nhưng để giải thích rõ ràng thì thật khó. Nhưng khi tôi gặp không ít người dù họ ít học, họ lại thích, hỏi họ có hiểu không thì họ trả lời không hiểu, nhưng họ lại cảm nhận được một điều gì đó chạm đến trái tim của mình. Tôi nghĩ trong nghệ thuật, điều quan trọng nhất là làm thế nào để mở ra một con đường ngắn nhất đi từ trái tim của mình đến trái tim của người mà không cần cắt nghĩa gì thêm”.
Schafer chạm đúng một điều mà nhiều người cảm nhận nhưng khó gọi tên: Nhạc Trịnh tồn tại lâu như vậy chính vì nó không bao giờ khép nghĩa. Người nghe luôn có cảm giác “hiểu” nhạc Trịnh, nhưng càng cố giải thích, nó càng trôi khỏi tay mình. Đó là kiểu ngôn ngữ không hoàn toàn là thơ, không hoàn toàn là triết học, không hoàn toàn là tôn giáo, mà là trạng thái lơ lửng giữa tất cả những thứ đó.
Ví dụ như, “Người chết nối linh thiêng vào đời” hay “Từng lời tà dương là lời mộ địa”...
Đây không phải lyric theo logic thông thường. Chúng vận hành bằng cảm giác, nhạc tính, trực giác, và tầng vô thức văn hóa của người Việt. Có lẽ điều vĩ đại nhất của Trịnh Công Sơn (trong sách, hơn một lần Schafer gọi Trịnh Công Sơn là Quốc Bảo của Việt Nam) là ông viết những câu hát mà người nghe luôn cảm thấy mình hiểu rất sâu, dù thực ra không ai có thể giải thích trọn vẹn. Và đó là chỗ Schafer cực kỳ thú vị: ông không cố phá vỡ sự mơ hồ ấy mà chấp nhận sống bên trong nó.
Như tôi đã nói từ đầu: đây là một "công trình của đời người". Một tác phẩm lớn, sâu, rộng, nhiều tầng, dù đôi khi hơi lan man, đôi khi khiến người đọc bị lạc trong đó. Nhưng chính sự lạc ấy lại giống trải nghiệm nghe nhạc Trịnh. Ta không nghe để “hiểu hết”. Ta ở lại vì bầu không khí, cảm giác và dư âm.
Điều khiến tôi xúc động nhất khi đọc cuốn chuyên luận này không phải là những so sánh giữa Trịnh Công Sơn và Bob Dylan, mà là hình ảnh một học giả Mỹ lặng lẽ dành gần như cả đời để đi tìm lời giải cho nỗi buồn Việt Nam. John Schafer không “giải thích” Trịnh theo kiểu học thuật lạnh lùng, ông tiếp cận Trịnh như một người hành hương. Cuốn sách đồ sộ này thực chất là hành trình cố hiểu: vì sao người Việt yêu nhạc Trịnh đến vậy, vì sao âm nhạc ấy vừa gần gũi vừa bất khả giải thích, và vì sao một người sống qua chiến tranh lại viết về đau đớn bằng sự dịu dàng và từ bi đến thế.
-Lê Hồng Lâm-