Vì sao là bất khả để thống kê tôn giáo ở An Nam?
Ngược dòng thời gian, từ cuối thế kỷ 19 và những thập niên đầu thế kỷ 20 đã có những nỗ lực thống kê tôn giáo của người An Nam. Nhưng theo Georges Coulet trong cuốn “Tín ngưỡng và tôn giáo An Nam” (Omega Books và NXB Thế giới ấn hành, Phan Tín Dụng dịch), thì những nỗ lực này chỉ mang tính chất “bề nổi”, chưa thật chính xác, bởi với con người nơi đây, tôn giáo cũng như tín ngưỡng không được phân biệt một cách rạch ròi như ta vốn tưởng.

Cụ thể, trong tài liệu “Atlas statistique de Indochine française” (“Bản đồ thống kê Đông Dương thuộc Pháp”) do nhà địa lý Henri Brenier thực hiện, ở bản đồ số 3, ông đã đưa ra những con số ước tính thú vị. Đơn cử, số lượng người theo Nho giáo có pha trộn Phật giáo và thậm chí cả tín ngưỡng vật linh, chịu ảnh hưởng Trung Hoa là 12 triệu rưỡi (gồm người An Nam và người gốc Hoa), trong khi số người Công giáo là hơn 1 triệu. Ông cũng cho biết số người An Nam tại Đông Dương là 12.6 triệu người, còn tổng dân số trên toàn Đông Dương là 16 triệu người.
Tuy vậy theo Coulet, Brenier không đưa ra phương pháp thống kê rõ ràng, vì vậy những con số này cần đặt nghi vấn. Bên cạnh đó, kết quả nói trên còn mâu thuẫn với “Annuaire administratif de l'Indochine” (“Niên giám hành chính Đông Dương”) vào năm 1926, khi tổng hợp số liệu từ 5 cơ quan hành chính địa phương (Cao Miên, Lào, Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ) thì tính đến thời điểm đó, tổng dân số Đông Dương là xấp xỉ 21.3 triệu người, trong đó có khoảng 18 triệu người An Nam. Điều này cho thấy có sự sai khác giữa 2 tài liệu.
Nhưng quan trọng nhất, vượt xa khỏi những khác biệt về mặt phương pháp, thì việc thống kê tôn giáo ở An Nam luôn là bất khả, bởi người dân nơi đây không hề rạch ròi tôn giáo mà mình tin tưởng, khi đời sống tín ngưỡng nơi đây có tính dung hợp. Cụ thể, theo Georges Coulet, người An Nam hiếm khi bị ràng buộc trong một hệ thống tôn giáo độc nhất. Họ có thể đồng thời là Phật tử, kính Khổng Tử, cúng tổ tiên, tin vào các thần linh dân gian, thậm chí vẫn thực hành đức tin Ki-tô giáo mà không cảm thấy mâu thuẫn. Ranh giới giữa các tôn giáo vì thế trở nên mờ nhạt, linh hoạt và khó có thể đo đếm bằng những thống kê cứng nhắc. Cũng vì điều đó mà khi đến nước ta, các tôn giáo không còn tồn tại như những hệ thống giáo điều chặt chẽ, mà hòa tan vào đời sống, phục vụ các nhu cầu tinh thần cụ thể của con người: cầu an, cầu phúc, xua rủi, tìm sự yên ổn trước những bất trắc của cuộc sống này…
Trong những điều kiện như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi không thể đưa ra con số chính thức hay chính xác nào về tỷ lệ của từng tôn giáo so với tổng dân số. Bởi ngay chính người An Nam cũng không thực sự biết rõ bản thân thuộc về tôn giáo nào, thì thật khó để họ điền điều đó vào một tờ khai điều tra dân số. Hơn nữa, tờ “Bulletin officiel des Services économiques de l'Indochine” (“Công báo của Cơ quan Kinh tế Đông Dương”) cũng nhận định các con số thô do những cuộc điều tra dân số khác nhau cung cấp chỉ có thể được chấp nhận với thái độ rất dè dặt. Vì lẽ đó, càng phải thận trọng trong bất kỳ khẳng định nào khi muốn xác định số lượng tín đồ của những tôn giáo mà trên thực tế không được tổ chức một cách hành chính tại Đông Dương.
Những điều nói trên có thể được minh chứng một cách dễ dàng bằng “mắt thấy tai nghe”, đơn cử như trong nhiều ngôi chùa, yếu tố Đạo giáo thường được xen lẫn cùng với Phật giáo. Theo đó, nếu các tôn giáo mang tính riêng lẻ, thì bàn thờ cho Tam bảo Phật sẽ có các vị Thích-ca Mâu-ni, Giáo pháp và Tăng đoàn; hoặc bộ ba khác phổ biến hơn gồm Thích-ca Mâu-ni, A-di-đà và Di-lặc. Trong khi đó về phía Đạo giáo, bộ ba Tam Thanh sẽ gồm Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đạo Quân - người thu nhận các nghi lễ và Lão Tử. Nhưng thực tế cho thấy các tượng Thánh nhân của hai tôn giáo thường được sắp xếp lẫn lộn, chan hòa với nhau, chẳng hạn Phật Thích Ca, Lão Tử và Khổng Tử cùng ngự bên nhau trên một bàn thờ. Điều này cho thấy cả Phật giáo và Đạo giáo có sự giao thoa, trong khi ở nhiều nơi, các ngôi chùa Phật giáo cũng đón tiếp những người theo Đạo giáo, coi đó như là Đạo quán.
Đi sâu hơn, Coulet khẳng định khác với nguồn gốc Trung Hoa, Đạo giáo An Nam đã bỏ qua toàn bộ học thuyết triết lý của ba ông tổ là Lão Tử, Liệt Tử và Trang Tử để chỉ tiếp nhận hệ thống thần điện Đạo giáo, vốn là cơ sở cho cả một nền thương mại rất sôi động từ hoạt động cầu nguyện, bói toán và bùa chú. Điều này cũng là lý do khiến các tôn giáo không đối lập mà luôn gần gũi, chan hòa bởi đã được “An Nam hóa”. Trong khi đó, chủ nghĩa duy lý chính là lý do giúp người theo Nho giáo có thể dung nạp các tôn giáo khác, miễn là những tôn giáo đó phần nào cũng mang tinh thần khoan dung. Với đặc trưng học cao hiểu rộng, những người theo Nho giáo xem Phật giáo, Đạo giáo cũng như Ki-tô giáo đơn giản là những sự việc thuộc một trật tự khác với trật tự của mình, nên những nhà Nho có phần cởi mở với sự đa dạng.
Trong lúc đó, Ki-tô giáo lại khó tiếp cận và va chạm mạnh hơn với tinh thần ái quốc của người An Nam, vì nó đến cùng giai đoạn quân đội Pháp tiến vào và trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến mất nước. Tuy vậy nhờ các cha xứ, linh mục ưu tiên “chất lượng hơn số lượng”, không vội khuếch trương quy mô mà kiên nhẫn đưa niềm tin này đến với nhiều người trong thời gian dài, dẫn đến dù không quá nhiều nhưng tôn giáo này vẫn luôn hiện diện. Và bởi người An Nam thường rất đông con, nên qua các thế hệ, Giáo hội Ki-tô giáo An Nam thường sẽ thấy số tín hữu của mình gia tăng dần dần.
Bên cạnh các tôn giáo được “du nhập”, thì người Việt xưa cũng luôn gìn giữ tục thờ cúng ông bà tổ tiên. Điều này bắt nguồn từ niềm tin vốn phổ biến khắp Á Đông rằng con người khi chết đi thì không biến mất hoàn toàn cùng với thể xác. Tại những nơi họ từng sống, vẫn tồn tại một dạng hồn nào đó vương vấn quanh cảnh vật quen thuộc, cần được trợ giúp để vượt qua những thử thách mà hồn đang phải chịu. So với Đạo giáo hay Phật giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có thể gắn kết cực kỳ dễ dàng hoặc bổ sung, kéo dài mà không hề gây trở ngại.
Điều này có thể nhìn thấy trong cách trang trí bàn thờ tổ tiên của người An Nam, khi bên cạnh hương bài của người mới mất, thì kề bên đó là hình Phật hoặc hình của một vị thần trong Phật giáo mà họ đặc biệt tôn kính. Với một tín đồ Đạo giáo thì thêm vào đó những hình tượng trong thần điện Đạo giáo; môn đệ Khổng giáo thì không bao giờ quên thể hiện đôi nét Nho giáo trên bàn thờ tổ tiên để chứng tỏ mình am hiểu về tục thờ cúng của quan lại và Nho gia. Tương tự, người Công giáo, người theo Tin lành, người theo tín ngưỡng sùng bái tự nhiên hay theo thuyết vật linh cũng đều thêm vào bàn thờ tổ tiên những yếu tố đặc trưng từ tôn giáo và niềm tin riêng của bản thân họ… Do đó không ngoa khi nói dù là Phật tử hay tín đồ Đạo giáo, thì người An Nam trong tận cùng bản chất vẫn gắn bó không lay chuyển với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Ngược lại, để chinh phục được người An Nam, thì các tôn giáo cũng như tín ngưỡng buộc phải biến đổi đến mức gộp tục thờ cúng tổ tiên như một phần trong chính nghi lễ của mình.
Như vậy, tất cả những tôn giáo trên hiện ra trước mắt người An Nam như những hệ thống hoàn chỉnh, hoặc về mặt siêu hình (như Phật giáo, Đạo giáo, Ki-tô giáo), hoặc về mặt luân lý (như Nho giáo) và được sẵn lòng chấp nhận tất cả. Nhưng bên cạnh đó, người An Nam cũng có tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, được thể hiện qua 3 hình thức thờ cúng riêng biệt: Tín ngưỡng dân gian và thờ Mẫu Tam phủ, Các tín ngưỡng nông nghiệp chính thức, Nghi lễ triều đình thờ Trời và Đất. Song song đó, tín ngưỡng vật linh của người An Nam cũng được đặc biệt thể hiện trong tục thờ Thành hoàng, các vị anh hùng cũng như người chết. Tất cả những niềm tin này hòa vào với nhau, mang đến một đời sống tôn giáo, tâm linh phong phú, không thể phân biệt cũng như thống kê, và là điểm độc đáo nhất của con người nơi đây.