Gene tri thức: Điều gì thực sự làm nên con người?
Vì sao loài người có thể tích lũy khối tri thức khổng lồ, truyền qua hàng nghìn thế hệ, rồi từ đó sinh ra nghệ thuật, âm nhạc, nghi lễ và văn minh? Trong "Gene tri thức", nhà nghiên cứu người Úc Lynne Kelly đưa ra một giả thuyết táo bạo: góp phần tạo nên năng lực ấy có thể là một biến thể của gene NF1 - bà gọi đó là "gene tri thức".
Theo Kelly, một biến đổi di truyền xuất hiện từ hàng trăm nghìn năm trước đã giúp tổ tiên loài người chú ý, ghi nhớ, học hỏi và truyền đạt thông tin tốt hơn. Nhưng trọng tâm cuốn sách không phải là "một gene quyết định tất cả". Bà đặt sinh học trong mối tương tác với văn hóa và môi trường, để lý giải cách con người biến tiềm năng nhận thức thành một hệ tri thức tập thể. "Gene tri thức", vì vậy, nên hiểu là tên một luận thuyết liên ngành gợi mở, không phải một kết luận di truyền học khép kín.
Điểm khác biệt của cuốn sách là Kelly không bắt đầu từ thư viện hay giảng đường, mà từ những xã hội chưa có chữ viết. Người bản địa Australia và nhiều cộng đồng truyền khẩu khác lưu giữ tri thức chi tiết về địa hình, nguồn nước, cây cỏ, muông thú, mùa vụ, phả hệ, chuẩn mực xã hội - không phải bằng cách "học thuộc" như ta vẫn hình dung, mà bằng cách mã hóa tri thức vào bài hát, câu chuyện, điệu múa, hình ảnh, nghi lễ, đồ vật và cả cảnh quan.

Từ đó, bà đặt lại vị trí của nghệ thuật trong lịch sử loài người: âm nhạc, hội họa, kể chuyện không chỉ để giải trí, mà từng là công nghệ lưu trữ và truyền tải tri thức. Việc gắn thông tin với nhịp điệu, hình ảnh, vận động, cảm xúc, không gian giúp con người nhớ chính xác hơn, lâu hơn và chia sẻ được trên quy mô cộng đồng. Kelly xác định tới 89 kỹ năng, chia thành bảy nhóm: âm nhạc, trình diễn, không gian, nghệ thuật, ngôn ngữ, nhận thức và xã hội - đây cũng là khung cấu trúc của sách.
Khi chữ viết ra đời, nhân loại có thể lưu tri thức bên ngoài bộ não - một bước tiến lớn. Nhưng theo Kelly, việc "thuê ngoài trí nhớ" ấy cũng dần đẩy nghệ thuật, vận động, không gian và trình diễn ra khỏi trung tâm việc học. Trong thời đại smartphone và AI, câu hỏi càng cấp thiết: nếu mọi thứ đều tra cứu được tức thì, con người còn xây được trí nhớ sâu, khả năng liên tưởng và nền tảng để sáng tạo hay không?
Đây là giá trị ứng dụng lớn nhất của cuốn sách: học hiệu quả hơn khi ta gắn kiến thức với câu chuyện, hình ảnh, âm nhạc, cảm xúc; dùng không gian quen thuộc như "cung điện trí nhớ"; kết hợp nói, viết, vẽ, vận động, trình diễn; ôn tập trong quan hệ với cộng đồng và môi trường sống; và nhìn khác biệt thần kinh không chỉ như khiếm khuyết mà còn như thế mạnh nhận thức riêng. Những gợi ý này hữu ích cho giáo viên, phụ huynh, học sinh, người làm sáng tạo, lãnh đạo: thay vì đồng nhất học tập với ghi chép, thi cử, có thể khôi phục vai trò của kể chuyện, nghệ thuật, trải nghiệm, địa phương học và trí nhớ chủ động.
Sức thuyết phục của sách còn đến từ chính hành trình của Lynne Kelly: xuất thân kỹ thuật, máy tính, giáo dục; tiến sĩ tại Đại học La Trobe; hiện là nghiên cứu viên liên kết tại La Trobe và nghiên cứu viên danh dự tại Đại học Melbourne. Hơn một thập niên nghiên cứu hệ tri thức bản địa, songlines và kỹ thuật ghi nhớ, bà cũng tự thực hành những phương pháp mình viết ra. Là tác giả khoảng 20 cuốn sách khoa học - trong đó có The Memory Code, Memory Craft, Songlines – bà từng được trao Huân chương Australia vì đóng góp cho giáo dục khoa học.
Gene tri thức không chỉ hỏi loài người từ đâu mà đến. Câu hỏi thiết thực hơn cuốn sách đặt ra là: giữa thời đại công nghệ ngày càng nhớ và nghĩ thay con người, ta sẽ làm gì để đánh thức trọn vẹn năng lực học hỏi, sáng tạo và truyền trao tri thức - thứ vốn làm nên chính mình?
- Trần Hoài Phương -