Một hành tinh xanh hơn: Chi phí riêng, lợi ích chung
Mỗi quốc gia trước hết đều thay mặt cho người dân để hành động vì lợi ích của chính mình, đồng thời hi vọng được hưởng lợi từ những nỗ lực của các quốc gia khác. Đối với một nhà kinh tế học thì biến đổi khí hậu là một “bi kịch của mảnh đất công”. Về lâu dài, hầu hết các quốc gia sẽ được hưởng lợi rất nhiều từ việc giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu, vì sự nóng lên toàn cầu sẽ có những tác động lớn về kinh tế, xã hội và địa chính trị. Song, động lực để mỗi quốc gia thực hiện việc cắt giảm này là không đáng kể. Trên thực tế, phần lớn lợi ích từ những nỗ lực của bất kỳ quốc gia nào nhằm làm giảm tình trạng nóng lên toàn cầu đều sẽ thuộc về các quốc gia khác.
Mỗi quốc gia đều phải chịu 100% chi phí cho các chính sách xanh của mình – ví dụ như chi phí cách nhiệt cho nhà ở, hoặc thay thế các nguồn năng lượng gây ô nhiễm như than bằng các nguồn năng lượng sạch hơn nhưng đắt hơn. Mặt khác, nói một cách đơn giản, nếu một quốc gia chỉ chiếm 1% dân số thế giới (và có mức độ tiếp xúc với rủi ro của biến đổi khí hậu gần mức trung bình), thì quốc gia đó sẽ chỉ nhận được 1% lợi ích từ chính sách xanh của chính mình. Vì vậy các chính sách môi trường của nước này chủ yếu sẽ mang lại lợi ích cho nước khác. Việc này cũng giống như bạn phải lựa chọn giữa việc chi 100 đô-la hôm nay hoặc tiết kiệm số tiền đó, trong khi biết rằng 99 đô-la trong số tiền tiết kiệm này sẽ bị lấy đi và trao cho người lạ. Hơn nữa, phần lớn lợi ích của các chính sách này không dành cho những cá nhân hiện đang trong độ tuổi bỏ phiếu, mà dành cho các thế hệ tương lai (những người chưa có quyền bỏ phiếu).

Cuốn sách "Kinh tế học vì lợi ích chung: Làm thế nào để các quyết định kinh tế phụng sự số đông?"
Do đó, bản thân các quốc gia không nhận được lợi ích từ các chính sách giảm phát thải: các chính sách này vẫn chưa đầy đủ, lượng phát thải vẫn ở mức cao, và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Vậy là vấn đề ngồi không hưởng lợi dẫn tới “bi kịch của mảnh đất công”. Bi kịch này được minh họa bằng nhiều nghiên cứu điển hình ở nhiều lĩnh vực khác. Chẳng hạn, khi nhiều người chăn nuôi cùng chia sẻ một đồng cỏ chung, hậu quả thường là chăn thả quá mức. Mỗi người nông dân đều muốn kiếm lời từ việc có thêm một con bò, mà không cân nhắc đến việc lợi nhuận của họ sẽ gây thiệt hại cho những người nông dân khác vì đàn bò của họ sẽ có ít cỏ hơn để ăn. Tương tự, thợ săn và ngư dân cũng mặc kệ chi phí của người khác khi tăng sản lượng của bản thân. Đánh bắt và săn bắt quá mức là những chủ đề thường xuyên gây tranh chấp quốc tế, và trong quá khứ chúng đã góp phần gây ra sự tuyệt chủng của nhiều loài, từ chim dodo, loài chim biểu tượng của Mauritius, đến loài gấu ở dãy núi Pyrenees và trâu rừng ở Đại bình nguyên Bắc Mỹ. Nhà sinh học tiến hóa Jared Diamond đã chỉ ra chuyện nạn phá rừng trên đảo Phục Sinh dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ một nền văn minh.6 Chúng ta có thể thấy những ví dụ khác về “bi kịch của mảnh đất công” trong ô nhiễm không khí và nước, ùn tắc giao thông, và an ninh quốc tế.
Elinor Ostrom, một nhà khoa học chính trị từng nhận giải Nobel Kinh tế năm 2009, đã chỉ ra cách các cộng đồng nhỏ và ổn định có thể quản lý các nguồn tài nguyên chung tại địa phương mà không trở thành nạn nhân của “bi kịch của mảnh đất công” này trong những điều kiện nhất định. Điều này là nhờ các cơ chế khuyến khích và trừng phạt không chính thức.7 Những phương pháp không chính thức nhằm hạn chế vấn đề ngồi không hưởng lợi này rõ ràng không áp dụng được cho biến đổi khí hậu, bởi vì trong trường hợp này, các bên liên quan là 8 tỉ cá nhân đang sống trên hành tinh của chúng ta, cộng với con cháu của họ. Việc tìm ra giải pháp cho vấn đề tác động ngoại ứng toàn cầu là rất phức tạp, vì không có cơ quan siêu quốc gia nào có thể triển khai và thực thi biện pháp chuẩn để quản lý lợi ích chung bằng cách tự gánh chịu chi phí bên ngoài (thường được sử dụng ở cấp quốc gia và được giải thích bên dưới), như lý thuyết kinh tế khuyến nghị.
- Trích cuốn sách "Kinh tế học vì lợi ích chung: Làm thế nào để các quyết định kinh tế phụng sự số đông?"