"Ý Nghĩa Của Sự Điên Loạn" - một cuốn sách sẽ phổ cập cho mọi người hiểu về sự nghiêm trọng của các bệnh tâm lý
Hôm trước mình nghe chị mình nói chuyện với bạn, chị nói là “Ủa, sao một người đang vui vẻ phơi phới vậy lại trầm cảm được ta? Lúc nói chuyện với em thấy em yêu đời lắm luôn không thể có chút nào là buồn phiền cả”
Thì người bạn đó mới nói là “ừ có lúc em vui vẻ quá trời, có lúc đang vui vẻ tự nhiên lại suy sụp kinh khủng, tự nhiên lại bật khóc mà cũng không hiểu tại sao luôn”
Vì có đọc về triệu chứng này nên ngay lúc đó mình đã nghĩ rằng có lẽ chị bạn đó bị rối loạn lượng cực, còn được gọi là bệnh rối loạn hưng- trầm cảm, nó là kiểu mà tâm trạng như một chuyến tàu cao tốc, đang rất vui và cũng đột ngột rất buồn. Hưng cảm và trầm cảm cách nhau chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn.
Nhiều người sẽ nghĩ rằng mình không có chút vấn đề tâm lý nào thì cần gì phải đọc sách về tâm lý, bởi sách tâm lý thường được gắn mác “hiểu bản thân để tự chữa lành”.

Nhưng thực sự thì sách viết về tâm lý rất thú vị, khi đã hiểu được đôi chút, có thể bạn sẽ lý giải được những việc kỳ quặc mà bản thân hoặc những người xung quanh đã từng làm.
Hôm nay mình sẽ giới thiệu cuốn "Ý Nghĩa Của Sự Điên Loạn", một cuốn sách sẽ phổ cập cho mọi người hiểu về sự nghiêm trọng của các bệnh tâm lý hoặc đơn giản giải đáp những thắc mắc kiểu như “bạn có phải là cùng một người giống y hệt nhau ở mọi thời điểm hay không?”
Bìa quyển sách là bức chân dung tự họa của họa sĩ James Ensor, nó có tên là “chân dung tự họa cùng mặt nạ”.
Chữ “nhân cách” “personality” có nguồn gốc từ thuật ngữ “Persona” trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “mặt nạ”
Là con người thì đương nhiên sẽ có nhân cách, nhân cách thật sự và nhân cách mà con người bộc lộ cho mọi người thấy liệu có phải là cùng một nhân cách?
Phần lớn những người mắc chứng rối loạn nhân cách đều không chủ động chữa trị trước khi họ có những hành động tự hại hoặc vi phạm pháp luật.
Đoạn miêu tả về những rối loạn này rất thú vị nhưng vì rất dài nên mình sẽ viết riêng trong một bài khác.
Có một điều đáng ngạc nhiên là đa số mọi người sẽ cho rằng những bệnh nhân thái nhân cách, rối loạn nhân cách, thường có xu hướng trở thành kẻ thô lỗ hoặc tội phạm. Trong khi thực tế 1 % những người thành công nhất trong xã hội này là những người xuất hiện tỉ lệ mắc bệnh này nhiều nhất.
Ví dụ, những người mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỷ thường rất tham vọng, tự tin và có động lực mạnh mẽ, đồng thời có khả năng tận dụng con người và hoàn cảnh xung quanh để đạt được lợi thế lợi thế tối đa.
Những người mắc chứng rối loạn nhân cách kịch tính lại rất điêu luyện trong việc quyến rũ và thao túng người khác, và tương tự trong việc xây dựng và tận dụng các mối quan hệ kinh doanh.
Còn những người mắc chứng rối loạn nhân cách Anankistic có thể dễ dàng thăng tiến trong sự nghiệp nhờ sự tận tụy trong công việc.
Trong nghiên cứu của mình các tác giả đã gọi những giám đốc điều hành mắc chứng rối loạn nhân cách là những kẻ thái nhân cách thành công còn các tội phạm hình sự là những kẻ thái nhân cách không thành công, và có vẻ như, những người thành công rực rỡ và những kẻ thái nhân cách bất ổn lại có nhiều điểm chung hơn chúng ta thường nghĩ.
Thậm chí nhà tâm lý học và triết học William James đã từng nói: “một trí tuệ siêu phàm kết hợp cùng một tính khí bệnh hoạn trong cùng một cơ thể đó chính là điều kiện tốt nhất để sản sinh ra loại thiên tài có thể lưu danh sử sách.”
Ở chương hai, tác giả kể về nguồn gốc của ngành tâm lý học, chuyện về tâm lý đã xuất hiện từ thời cổ đại trong thần thoại Hy Lạp hay sử thi Hamer, ở vào thời điểm này, những người mắc bệnh tâm thần phân liệt được xem là sự trừng phạt của Thượng đế hay các vị thần.
Ở thời kỳ phục hưng, những người mắc bệnh lại bị xem như là những kẻ dị giáo, họ bị trừng phạt bằng hình thức hỏ.a th.iê.u hoặc giam vào ngục tối.
Tuy nhiên, một trong những triệu chứng của người bệnh tâm thần là ảo thanh, và đôi khi một số người nghĩ rằng họ có thể nghe được tiếng nói của những người đã khuất hoặc lời tiên tri từ Chúa trời, và từ đó có thể trở thành mục sư hoặc bà đồng, phù thuỷ, hay những danh xưng tương tự, những nhân vật quan trọng trong xã hội truyền thống với vai trò chữa lành thể chất, tâm hồn, dự báo thời tiết, theo dấu các lĩnh vực, giao tiếp với các linh hồn, và xoa dịu các vị thần.
Từ đó đặt ra câu hỏi rằng thay vì kỳ thị hoặc xa lánh ta có thể xem những người mắc bệnh tâm thần phân liệt hay mang các đặc trưng loại phân liệt như những cá thể được ban tặng tài năng hay ơn gọi, và nên được trao cho một vai trò quan trọng cùng địa vị tương xứng trong xã hội. Nếu bệnh nhân tâm thần phân liệt có một số phận tốt hơn trong các xã hội truyền thống, thì cũng là do ở đó người ta xem rối loạn hay bệnh tâm thần như một phần của cuộc sống, một phần của bản chất con người, thay vì là dấu chỉ của bệnh tật hoặc thất bại, và cho phép họ, những người mà chúng ta vẫn gắn cho cái mác bệnh nhân tâm thần, nắm giữ một vị trí danh dự trong cộng đồng của họ.
Thậm chí đã từng có những phong trào phản tâm thần học vào năm 1969 và cuối năm 1970, những người ủng hộ phong trào cho rằng việc đặt khái niệm về chứng rối loạn tâm thần nghiêm trọng, và đặc biệt là bệnh tâm thần phân liệt, chỉ cho thấy một nỗ lực nhằm y tế hóa và qua đó kiểm soát những hành vi không mong muốn về mặt xã hội. Mặc dù ban đầu có vẻ rất lôi cuốn nhưng phản tâm thần học lại dần dần suy yếu mà nguyên nhân sau cùng là sự chần chừ không nhìn nhận những đau khổ của những người mắc chứng rối loạn tâm thần nghiêm trọng, trong đó có những nguy hiểm rất thực tế mà họ có thể gây ra cho bản thân.
Ngày nay hầu như không còn nghi ngờ gì về sự tồn tại của chứng rối loạn tâm thần nghiêm trọng, nhưng bản chất của nó là gì thì vẫn chưa rõ, và hiểu biết của chúng ta về vị trí của nó trong các vấn đề của con người, và ý nghĩa của nó, vẫn còn nhiều thiếu sót, phần nhiều vì sự chần chừ của các bác sĩ tâm thần trong việc bàn luận về nó.
Carl Jung, một người có đóng góp cực kỳ to lớn trong lĩnh vực tâm lý học đã đặt ra một câu hỏi lớn rằng “ tại sao tâm trí lại phải nhọc công dựng lên những thứ bệnh lý vô bổ?”
Tiếp tục ở chương ba, là những bài viết về trầm cảm, bệnh này cũng đã được nhắc tới nhiều nên mình cũng sẽ không nói thêm nữa, nhưng có một đoạn văn mình thấy rất hay được chép lại trong sách, ở trong cuốn “bóng tối hữu hình, hồi ức của một người điên.”
“Trong cơn trầm cảm, niềm tin và sự cứu rỗi và sự phục sinh trong ngày sau chót không cần nữa, nỗi đau không khi nào ngưng nghỉ, và thứ khiến tình trạng này trở nên tồi tệ hơn là ta biết rằng sẽ chẳng bao giờ có phương thuốc cứu chữa, dù là trong một ngày, một giờ, một tháng hay một phút. Nếu có phút giây nào nhẹ nhõm thì ta biết nó chỉ là tạm bợ. Nỗi đau rồi sẽ quay lại và nhiều hơn gấp bội. Hơn cả nỗi đau, chính sự tuyệt vọng mới là thứ bóp nghẹt tâm hồn ta. Và như thế, những quyết định mà hằng ngày ta đưa ra, khác với bọn “phàm phu tục tử” không đưa ta thoát khỏi cái bực dọc phiền muộn, không tránh khỏi cái khó chịu mà hướng về cái dễ chịu, không bỏ “nơi vắng vẻ” mà tìm đến “chốn lao xao”, nhưng dẫn dắt ta từ nỗi đau này sang nỗi đau khác. Chân ta không lúc nào rời khỏi một tấm thảm đầy gai, dù chỉ trong thoáng chốc, và ta đi đến đâu thì nó chạy đến đấy.”
Ở chương bốn rối loạn lượng cực lại thú vị hơn, trong những câu đầu tiên mình đã nhắc về nó, là khi người bệnh ở trong trạng thái hưng phấn cực điểm, sự sáng tạo thăng hoa, sự yêu đời, niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống rồi sau đó lại đột ngột rơi vào bế tắc. Ở thời đại chúng ta, đã có một số loại thuốc để hỗ trợ cho người bệnh, nhưng dĩ nhiên là đi kèm với vô vàn tác dụng phụ.
Ngoài 1001 những rắc rối và đau khổ mà căn bệnh này mang đến, nó còn mang đến những thành công và thành tựu lớn lao cho một số người, vào lúc những cơn hưng cảm kéo đến, sự sáng tạo thăng hoa khiến họ đạt được những thành công lớn trong đời người, sự sáng tạo không giới hạn của họ cũng mang lại ích lợi cho cộng đồng.
Dĩ nhiên không phải thiên tài sáng tạo nào cũng là bệnh nhân rối loạn lượng cực, và ngược lại phần lớn bệnh nhân rối loạn lượng cực cũng không phải là thiên tài sáng tạo. Nói cách khác rối loạn lượng cực không phải là điều kiện cần hay đủ để tạo ra thiên tài sáng tạo.
Trong cuốn An Unquiet Mind, Jamison tâm sự:
Tôi thường tự hỏi liệu nếu được chọn, tôi có chọn căn bệnh hưng-trầm cảm hay không. Nếu không có lithium, hoặc nếu nó không có hiệu quả với tôi, câu trả lời sẽ đơn giản là không. Một câu trả lời đầy sợ hãi. Nhưng lithium lại có hiệu quả với tôi và nhờ đó tôi có vốn liếng để cân nhắc câu hỏi ấy. Và có kỳ lạ chăng nếu câu trả lời của tôi là có. Biết nói sao nhỉ, sự khủng khiếp của trầm cảm quả thật không lời nói, âm thanh hay hình ảnh nào diễn tả nổi. Nhưng tại sao tôi lại muốn dính dáng đến căn bệnh ấy, bởi tôi thực tâm tin rằng nhờ có nó mà tôi cảm nhận được nhiều điều hơn, Sâu sắc hơn, có nhiều trải nghiệm mãnh liệt hơn, yêu nhiều hơn và cũng được yêu nhiều hơn, cười nhiều hơn vì đã khóc nhiều hơn, và càng thêm trân quý mùa xuân sau những mùa đông dài đằng đẳng. Lúc trầm cảm tôi phải bò bằng tay và đầu gối chỉ để di chuyển trong phòng và phải chịu như thế hết tháng này qua tháng khác. Nhưng khi bình thường hay hưng phấn, tôi đã chạy nhanh hơn, suy nghĩ nhanh hơn và yêu nhanh hơn bao giờ hết. Và tôi nghĩ những điều ấy có liên quan đến căn bệnh của tôi, cách nó mang lại sức nặng cho mọi thứ.
Mình trích dẫn đoạn này là bởi mình thấy nó tích cực, cũng như kim chỉ nam của Frankl (một bác sĩ tâm thần học và nhà thần kinh học) rằng:
Ngay cả trong những hoàn cảnh đau đớn, phi lý và nhục nhã nhất, ta vẫn có thể tìm ra ý nghĩa của cuộc sống, và cả của khổ đau. Một người có thể bị tước đoạt mọi thứ trừ một điều duy nhất: Quyền tự do cuối cùng của một con người, quyền lựa chọn thái độ của bản thân trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và quyền quyết định cách sống.
- Van Pham -